Ưu thế của Y học bản địa Việt Nam và giải pháp thúc đẩy sự phát triển

Y học bản địa Việt Nam là tập hợp các tri thức văn hóa cần thiết trong việc bảo vệ sức khỏe, sinh mạng của con người Việt Nam trước sự đe dọa của bệnh tật đến từ các nguồn khác nhau. Đây là những tri thức Y học riêng của mỗi cộng đồng thuộc tập hợp 54 dân tộc anh em, có chung nguồn gốc bắt nguồn từ hai chữ “đồng bào”,đang sinh sống trên dải đất hình chữ S ven bờ biển Đông. Trong quá trình hình thành và phát triển, Y học bản địa Việt Nam vừa có sự lớn mạnh tự thân, vừa tiếp thu tri thức y học cổ của người Trung Hoa cũng như các nước phương Đông khác. Tuy nhiên, Y học bản địa Việt Nam luôn có bản sắc riêng và trong dòng chảy chung của văn hóa Việt Nam, có thể đồng nhất hai khái niệm Y học bản địa (YHBĐ) và Y học dân tộc (YHDT). Theo quan niệm của tổ chức Văn hóa khoa học giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), đây là một di sản văn hóa phi vật thể của người Việt Nam, rất đáng để tự hào và tôn vinh cũng như lưu giữ cho muôn đời con cháu mai sau.

1. Ưu thế của YHBĐ trong ngành Y – Dược Việt Nam

Trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, YHBĐ nước ta đã góp phần to lớn bảo vệ sức khỏe, bảo vệ giống nòi Việt Nam kể cả khi đứng trước sự đe dọa của các bệnh truyền nhiễm như đậu mùa, dịch tả, thương hàn…đã từng xảy ra ở nhiều nơi trước kia. Chữa bệnh bằng các phương pháp YHBĐ đã tỏ rõ ưu thế về tính đa dạng, an toàn, rẻ tiền, dễ kiếm mà không kém hiệu quả so với áp dụng các quan điểm y thuật khác.

Tây y du nhập vào nước ta chỉ có lịch sử trăm năm với những thủ thuật, phương pháp, công cụ, thiết bị máy móc, thuốc… là sản phẩm của phát minh, phát kiến, tìm tòi, sáng tạo bằng sức mạnh của trí tuệ con người phương Tây, vốn luôn tự cho mình là chúa tể muôn loài, có sức mạnh thay đổi tự nhiên. Trong đó, thuốc Tây hầu hết được sản xuất từ những chất hóa học tổng hợp trong phòng thí nghiệm, có sự tiếp sức của công cụ, thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại. Những loại thuốc Tây này bao gồm cả vắc-xin, đã góp phần to lớn bảo vệ loài người, trong đó có nhân dân ta trước các thảm họa diệt vong của bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi trùng, vi rút.

Tuy nhiên, điều dễ thấy là các loại thuốc Tây y khi sử dụng thường bộc lộ những mặt trái, đó là những hệ lụy, những hậu quả để lại cho người sử dụng, tỷ dụ như tình trạng kháng thuốc, dị ứng thuốc, phản ứng phụ của thuốc và nhiều tác động không mong muốn khác. Trong quá trình thải trừ khỏi cơ thể, hầu hết các thuốc Tây phải qua gan, thận nên khi sử dụng quá liều hoặc kéo dài, thuốc làm suy giảm chức năng các cơ quan trọng yếu này.

Về tính kinh tế: bất kỳ một chất hóa học tổng hợp mới nào khi được sử dụng làm thuốc bao giờ cũng là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu tìm tòi, nhiều khi vô vọng. Để có một chất hóa học hữu dụng trong chữa bệnh, thông thường con người phải tìm cách tổng hợp hàng nghìn chất, cho nên giá thuốc đắt đỏ là điều đương nhiên và người nghèo sẽ ít cơ hội tiếp cận sớm thành quả phát minh loại thuốc mới.

Trong khi đó, thuốc của nền YHDT là những hoạt chất sinh học do sinh vật (cây, con, vi sinh vật) tổng hợp nên bằng cơ chế chọn lọc tự nhiên qua hoạt động gen. Quá trình chọn lọc ở mức gen trong tế bào đã loại trừ gần như hoàn toàn những sản phẩm lỗi, vì thế, cũng an tâm để nói rằng xác suất gây phản ứng phụ tới người dùng thuốc YHDT là rất thấp, nhất là khi người hành nghềlà thầy thuốc có kiến thức, có tâm và đạo nghề. Hơn nữa, chẳng có nhà máy tổng hợp hóa học nào trong công nghiệp hiện đại hoạt động có hiệu quả bằng quá trình sinh tổng hợp trong bộ máy tế bào sinh vật. Chỉ cần những điều kiện thích hợp của đất đai, thời tiết, khí hậu thì cây dược liệu đã có thể tổng hợp nên những hoạt chất dùng làm thuốc với giá thành rẻ nhất. Cái khó nhất lại chính ở chỗ: hoạt chất thầy thuốc cần để chữa bệnh là chất gì, nằm ở cây nào, thành phần nào của cây, cây được liệu phát triển trong điều kiện nào của đất đai, khí hậu,của nắng, mưa…và những yếu tố tự nhiên khác. Đây là những bí mật vô cùng tận để người thầy thuốc tìm tòi, khám phá và bảo vệ thành quả của mình cũng như của cộng đồng, để những bí mật ấy không dễ gì lọt được ra ngoài. Người thực hành YHDT cũng là người hiểu rất rõ và nắm được những bí mật về mối tương hợp của các vị thuốc, bài thuốc với nhau, với các loại thực phẩm cũng như với chính cơ thể người sử dụng để đạt tới hiệu quả mong muốn. Ngược lại, cũng chính những “thầy lang” ấy lại hiểu rất rõ tính tương kỵ sinh vật để ứng dụng vị thuốc, bài thuốc phù hợp với các đặc điểm cụ thể về giới tính, tuổi tác, tình trạng cơ thể, tình trạng cũng như mức độ diễn biến của bệnh…Tùy bệnh, mà gia giảm, điều chỉnh liều lượng và thời gian sử dụng thuốc để đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị và bảo vệ sức khỏe người bệnh.

Từ xưa tới nay, người Việt Nam dù ít hay nhiều, đều biết dùng thuốc Nam ở mức độ khác nhau. Đơn giản là dùng những cây cỏ quanh nhà để chữa những bệnh thông thường như cảm mạo, sốt, ho, đau bụng đi ngoài…Nước ta có nhiều danh y lớn là niềm tự hào của nền Y học dân tộc như Lê hữu Trác, Tuệ Tĩnh… mà tiếng thơm luôn còn mãi. Bên cạnh đó, nước ta cũng có cả một đội ngũ đông đảo các “nhà lang gia truyền” có thể hoạt động chính danh hoặc mai danh ẩn tích nơi núi cao, rừng sâu. Vốn kiến thức y học dân tộc của họ không chỉ do ông, cha họ truyền lại mà nhiều khi cũng còn có cả mối lương duyên do trời đất, thánh thần ban cho để làm phúc cứu người, như tiêu chí bất thành văn của YHBĐ chúng ta đã từng được nghe.

Ngày nay, trái đất là ngôi nhà chung của toàn nhân loại. Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin mà cả 2 nền y học Đông phương và Tây phương đã có nhiều cơ hội tiếp xúc, giao lưu, học hỏi để tiếp thu những tinh hoa của nhau và khắc chế bớt những điểm yếu tự thân trong trong chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe con người. Qua sự giao lưu ấy mà người ta nhận ra rằng, cần quay trở lại với thiên nhiên, trở về sống hài hòa trong cái nôi của chính mình. Đây là một nhu cầu chính đáng và nhân bản.Vì thế, chưa bao giờ vấn đề bảo vệ môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học lại đặt ra nhiều nhiệm vụ gay gắt như bây giờ. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của bảo vệ môi trường sống chính là bảo vệ nguồn gen sinh vật, giữ cân bằng sinh thái bền vững. Trong đó, có giữ được nguồn gen dược liệu cho tương lai mới có cái để tìm tòi, khai thác cho mục đích bảo vệ loài người trước các thảm họa bệnh tật chưa thể biết trước, mà thiên nhiên có thể gây ra. Đây chính là một trong những giải pháp chiến lược mà các tổ chức quốc tế trong đó có WHO đưa ra.

Đã mấy chục năm qua, nền Y học Việt Nam đi theo hướng “Đông – Tây y kết hợp”. Đây là sự chỉ đạo có tính xuyên suốt, thể hiện sự tài tình và tầm cao văn hóa của Bác Hồ - người khởi xướng quan điểm này. Nhờ quán triệt sự chỉ đạo này, mà nền Y học nước ta đã vừa tiếp thu có kết quả cao những thành quả của Y học tây phương (một số lĩnh vực có thể tự hào là đi ngang trình độ thế giới như: phẫu thuật tim mạch, ghép tạng…) lại vừa khuyến khích YHDT phát triển, đáp ứng rộng rãi nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong cả nước, phù hợp với điều kiện kinh tế chung, mà lại luôn phát huy tốt bản sắc văn hóa và có giá trị tôn vinh nền YHBĐ Việt Nam.

Nước ta là một quốc gia nhiệt đới đa sắc tộc, có tiềm năng dược liệu và tri thức YHBĐ rất phong phú. Để hội nhập thế giới, để quảng bá và thu hút mọi người tới Việt Nam du lịch và chữa bệnh bằng thuốc và các phương pháp YHBĐ, một vấn đề lớn đặt ra là phải mang khoa học công nghệ tiên tiến, mang ánh sáng của Y học hiện đại để làm sáng tỏ bản chất của YHDT; nghiên cứu, xây dựng những bài thuốc, công thức thực phẩm chức năng (TPCN) ứng dụng trong điều trị, chăm sóc sức khỏe cộng đồng có hiệu quả cao, có đầy đủ cơ sở khoa học. Việc này không chỉ tạo ra sức hút và uy tín, mà đồng thời cũng là sự vinh danh giá trị YHBĐ VN trước thế giới. Đây không chỉ là việc làm có tính dân tộc, đại chúng, mà còn tạo ra các giá trị hấp dẫn nhân loại trên con đường trở lại với cái nôi của mình. Đó cũng chính là sự tôn trọng thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên mà tồn tại bền vững, hay nói khác đi - hãy thuận theo tự nhiên mà hành xử.

 

2. Biện pháp tháo gỡ rào cản để thúc đẩy YHDT phát triển

            Để hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, các cơ quan quản lý của ngành Y, Dược mà cao nhất là Bộ Y tế đã đề xuất nhiều chủ trương, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị để phát huy sức mạnh của sự kết hợp Đông – Tây y trong khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe của nhân dân như: Xây dựng Viện YHDT, các trường đào tạo bác sỹ YHDT; Bệnh viện YHDT được xây dựng ở nhiều bộ, ngành, địa phương khắp cả nước; Các khoa YHDT trong hệ thống bệnh viện lớn; Vườn thuốc nam ở các tuyến y tế cơ sở xã, phường; Quy định tiêu chuẩn và cấp giấy phép cho tư nhân hành nghề YHDT... Hệ thống này đã có những đóng góp to lớn cùng cả ngành Y tế làm tốt chức phận cao cả của người thầy thuốc đối với nhân dân. Cũng trong những năm qua, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tạo hành lanh pháp lý cho YHDT phát triển như:

Thông tư 16/2011/TT –BYT Quy định nguyên tắc sản xuất thuốc từ dược liệu và lộ trình áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) đối với cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu; Thông tư 22/2011/ TT-BYT Quy định tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện, trong đó có quy định về bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện; Thông tư 01/2016/TT–BYT quy định về đơn thuốc YHCT, kê đơn thuốc YHCT kết hợp thuốc tân dược trong các cơ sở khám chữa bệnh…Những văn bản pháp luật này đã tháo gỡ nhiều khó khăn vướng mắc giúp YHDT song hành với Tây y trên con đường phát triển ngành Y tế Việt Nam. Nó tạo cơ hội để sản xuất thuốc YHDT tại chỗ, sử dụng trong nhu cầu chữa bệnh của bệnh viện; tạo điều kiện để bác sỹ đa khoa có thể kê thuốc YHDT và TPCN trong đơn thuốc; tạo điều kiện để việc cấp phép lưu hành và sử dụng thuốc YHDT được thuận lợi hơn…

Thực tiễn cho thấy, hành lang pháp lý ấy chưa đủ để YHDT có cơ hội bình đẳng với Tây y trong hoạt động của ngành Y tế hướng tới mục đích chung cao cả là chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho con người Việt Nam. Không phải là quá mạnh dạn khi nói rằng: các văn bản pháp luật trong quản lý ngành Y –Dược và hoạt động khám chữa bệnh của nước ta từ trước tới nay hầu hết đều sao chép từ những sách vở của y học phương Tây, vì các cán bộ quản lý ngành Y tế nước ta hầu hết được đào tạo ở nước ngoài. Các văn bản hướng dẫn nghiên cứu, sản xuất, các thủ tục lưu hành thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe khác ngoài thuốc thường quy định rất chặt chẽ các bước cần thiết, đôi khi trở nên giáo điều, không phù hợp với các đặc điểm riêng của thuốc YHDT. Một trong những đặc điểm riêng lớn nhất đó là: YHDT quan tâm tới kết quả thu được, mà không cần chứng minh vì: hầu hết các “thầy lang” hành nghề theo kinh nghiệm gia truyền, vì lý do bảo mật, không loại trừ kèm theo cả các yếu tố tâm linh. Hơn nữa, việc tìm kiếm cơ sở khoa học của bài thuốc, yêu cầu thử nghiệm đặt ra có chi phí rất tốn kém, trong khi  ngoài thực tiễn, bài thuốc ấy đã được xã hội thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Đây là lý do chính để những bài thuốc YHDT không có cơ hội tiếp cận thị trường, không tạo điều kiện để “thầy lang” có gia tăng thu nhập mà yên tâm gìn giữ đạo nghề trong thời đại thị trường hóa, toàn cầu hóa.

Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc YHDT, phương pháp bản địa  trong chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân đang bùng nổ một cách tự phát và rất khó kiểm soát. Suy cho cùng, quyền lựa chọn phương pháp và phương tiện bảo vệ sinh mạng và sức khỏe của mỗi người phụ thuộc vào chính họ. Nhân dân mới là người có quyền quyết định cao nhất trong sử dụng sức mạnh của Y học nói chúng, YHDT nói riêng để tự bảo vệ mình. Trách nhiệm của cơ quan quản lý Y tế là cần nghiên cứu thực tiễn để hoạch định những chính sánh hợp lý, bãi bỏ những văn bản có tính rào cản để mở đường cho YHDT phát huy sức mạnh của nó. Đấy cũng chính là phát huy và tôn vinh giá trị văn hóa YHBĐ Việt Nam, đòi hỏi các nhà quản lý cần quan tâm đúng mức. Sau đây là đề xuất tháo gỡ:

  • Bộ Y tế cần tổng kết, đánh giá về hiệu quả điều trị và hiệu quả xã hội của những bài thuốc gia truyền có uy tín cộng đồng rộng rãi, tạo điều kiện để người giữ bản quyền có các điều kiện cần thiết trong việc áp dụng công nghệ hiện đại sản xuất thuốc hàng hóa, tiện dùng cho người bệnh.
  • Ra quy định đặc thù về: chứng minh cơ sở khoa học, điều kiện thử nghiệm hợp lý, ít tốn kém để thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc YHBĐ có điều kiện sản xuất công nghiệp hóa, thị trường hóa sản phẩm rộng rãi, tạo cơ hội cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài.

 

PGS.TS Hoàng Toàn Thắng

Viện Y học bản địa Việt Nam

Doctor SAMAN

Đăng bình luận

Hãy chọn ô phía trên để xác nhận

Các bình luận trước đó