Sinh dục nam

Sinh dục nam

Mỗi tinh hoàn có # 900 ống sinh tinh. 1ống s/tinh dài 50cm® nơi SX tinh trùng.  Thành ống s/t gồm TB dòng tinh (tinh nguyên bào) và TB Sertoli. Tinh nguyên bào biệt hoá ® tinh trùng. TB Sertoli gắn nhau = lớp có T/D bảo vệ TB dòng tinh.

Tác giả: Sưu tầm

Sinh lý sinh sản nữ

Sinh lý sinh sản nữ

Là tuyến vừa ngoại tiết (SX trưng) và nội tiết (tiết HM SD nữ). Noãn cấp II phân chia thành noãn trưởng thành (có 1n NST: 22NST thân và X).  1.2- Niêm mạc tử cung. có 2 lớp:

Tác giả: Sưu tầm

Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng thận

Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng thận

Từ phương pháp thanh thải creatinin của Rehberg (1926), hoặc phương pháp thanh thải urê của Moler Mehntosh và Van Slyke (1928), ngày nay người ta đã tìm được nhiều chất thử thích hợp cho việc thăm dò từng phần chức năng thận: inulin, creatinin, urê, P.A.H, Cr 51, E.D.T.A …

Tác giả: Sưu tầm

Thận điều hòa cân bằng nội môi

Thận điều hòa cân bằng nội môi

Trong quá trình sống cơ thể luôn tạo ra các sản phẩm làm biến đổi tính hằng định của nội môi. Trong đó có cân bằng acid-base. Người ta nhận thấy rằng phản ứng điều chỉnh pH máu của thận có muộn hơn nhưng lại rất có hiệu qủa. Sự điều hoà được thực hiện một cách hoàn hảo ở vai trò của thận trong sự bài tiết H+, tái....

Tác giả: Sưu tầm

Quá trình tạo nước tiểu

Quá trình tạo nước tiểu

Áp lực keo của huyết tương mao mạch cuộn mạch: GCP (glomerular colloid osmotic pressure). GCP được tạo nên nhờ các hợp chất hữu cơ phân tử lượng cao, đặc biệt là các protein huyết tương. Các chất này có khả năng giữ nước lại cho huyết tương. GCP ở động mạch đến là 28mm Hg (đây là áp lực keo của máu), ở động mạch đi là 36mm Hg

Tác giả: Sưu tầm

Sinh lý thận

Sinh lý thận

Trong cơ thể thường xuyên có những chất cần được đào thải ra ngoài. Đây là những chất được sinh ra do quá trình chuyển hoá, những sản phẩm do sự phân huỷ tế bào và mô đã già cỗi, các chất độc lạ bằng nhiều đường khác nhau xâm nhập vào cơ thể.

Tác giả: Sưu tầm

Các dịch khác của cơ thể

Các dịch khác của cơ thể

Một cơ thể trưởng thành, bình thường có khoảng 25 lít dịch nằm trong các tế bào (chiếm 45% trọng lượng cơ thể), gọi là dịch nội bào, có khoảng 9 lít dịch nằm xung quanh các tế bào, thuộc tổ chức gian bào (chiếm 15% trọng lượng cơ thể), gọi là dịch gian bào. Dịch gian bào là môi trường sống của tế bào nên còn được gọi là....

Tác giả: Sưu tầm

Huyết tương

Huyết tương

 Huyết tương là phần lỏng của máu, chiếm 55-56% thể tích máu toàn phần. Huyết tương là dịch trong, hơi vàng, sau khi ăn có màu sữa, vị hơi mặn và có mùi đặc biệt của các acid béo.

Tác giả: Sưu tầm

Rối loạn cơ chế cầm máu

Rối loạn cơ chế cầm máu

– Nhiễm trùng hoặc nhiễm độc gây huỷ fibrin làm chảy máu. Cũng có nhiều trường hợp bình thường cơ chế cầm máu rất cân bằng nhưng khi có sự can thiệp phẫu thuật vào cơ thể thì rối loạn cơ chế cầm máu mới xuất hiện, gây chảy máu kéo dài. – Cấu trúc thành mạch bị biến đổi, thành mạch kém bền rất dễ gây chảy máu.

Tác giả: Sưu tầm

Cầm máu & Đông máu

Cầm máu & Đông máu

Trong huyết tương có pasminogen (profibrinolysin). Các mô tổn thương, nội mạc tổn thương và vi khuẩn đã giải phóng ra chất hoạt hoá plasminogen. Khoảng một ngày sau khi cục máu đông, chất này đã chuyển plasminogen thành plasmin. Plasmin là một enzym làm tiêu fibrin và cả fibrinogen làm tan cục máu. Vì lý do này mà có thể gây ra chảy máu thứ phát rất nguy hiểm

Tác giả: Sưu tầm

Chống đông máu

Chống đông máu

Lớp glycocalyx (bản chất là mucopolysaccarid) hấp phụ trên bề mặt nội mạc, có tác dụng đẩy tiểu cầu và các yếu tố gây đông máu cho nên ngăn cản được sự hoạt hoá hệ thống gây đông máu. – Thrombomodulin là một protein của nội mạc có khả năng gắn với thrombin làm bất hoạt thrombin. Ngoài ra phức hợp thrombomodulin-thrombin còn có tác dụng hoạt hoá protein C....

Tác giả: Sưu tầm

Tiểu cầu

Tiểu cầu

Với đặc điểm chức năng trên đây, tiểu cầu đã tham gia vào quá trình cầm máu, được xem như là một hàng rào bảo vệ sự mất máu. Tiểu cầu cũng có khả năng gắn lên vi khuẩn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực bào được dễ dàng. Ngoài ra tiểu cầu còn có tác dụng khác nữa như làm hạ huyết áp, chức năng miễn....

Tác giả: Sưu tầm

Bạch cầu

Bạch cầu

Bạch cầu là các tế bào có nhân, hình dáng và kích thước rất khác nhau tuỳ từng loại. Bạch cầu không phải chỉ lưu thông trong máu, mà nó còn có mặt ở nhiều nơi trong cơ thể: bạch huyết, dịch não tuỷ, hạch bạch huyết, các tổ chức liên kết…

Tác giả: Sưu tầm

Nhóm máu và truyền máu

Nhóm máu và truyền máu

Sự hiểu biết về kháng nguyên nhóm máu là vô cùng cần thiết cho công tác truyền máu. Truyền máu đã được áp dụng từ lâu trong cấp cứu và điều trị. Khi truyền máu đã gặp nhiều tai biến rất nguy hiểm, mặc dù truyền máu lần đầu.

Tác giả: Sưu tầm

Rối loạn lâm sàng của hồng cầu

Rối loạn lâm sàng của hồng cầu

Đa hồng cầu thứ phát do sống ở vùng núi cao, do suy tim, do bệnh đường hô hấp… đây là đa hồng cầu do thiếu oxy ở các mô. – Đa hồng cầu thật sự do tuỷ xương tăng sản xuất hồng cầu (có kèm theo tăng bạch cầu và tiểu cầu). Hậu quả là quá tải chức năng tuần hoàn, độ nhớt máu tăng, rối loạn tuần hoàn....

Tác giả: Sưu tầm

Chức năng hồng cầu

Chức năng hồng cầu

Hồng cầu là thành phần chủ yếu tạo độ nhớt của máu, nhờ độ nhớt mà tốc độ tuần hoàn, nhất là tuần hoàn mao mạch, hằng định. Tốc độ tuần hoàn hằng định là điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi vật chất giữa tế bào và máu. Khi độ nhớt của máu thay đổi sẽ gây ra thay đổi tốc độ tuần hoàn và làm rối loạn....

Tác giả: Sưu tầm

Hồng cầu

Hồng cầu

Thể tích một hồng cầu là 83mm3 (83femtolit). Nhờ có tính đàn hồi tốt mà hồng cầu dễ dàng thay đổi hình dạng khi đi qua các mao mạch. Diện tích bề mặt hồng cầu lớn (do có hai mặt lõm), vì vậy khi hồng cầu biến dạng màng hồng cầu không bị căng và vỡ ra. Nếu tính diện tích toàn bộ màng hồng cầu trong cơ thể cộng....

Tác giả: Sưu tầm

Khối lượng, thành phần, chức năng sinh lý máu

Khối lượng, thành phần, chức năng sinh lý máu

Máu có tính hằng định. Tính hằng định của máu được đánh giá qua các chỉ số sinh lý, sinh hoá của máu. Các chỉ số này, trong điều kiện sinh lý bình thường là rất ít thay đổi hoặc chỉ thay đổi trong một phạm vi rất hẹp. Vì vậy chúng được coi như là một hằng số. Kiểm tra các chỉ số sinh lý, sinh hoá của máu....

Tác giả: Sưu tầm

Sự co cơ

Sự co cơ

về thể tích không thay đổi nhưng giảm về chiều dài và tăng độ chắc của cơ. Cơ co, có thể rút ngắn chiều dài tới 2/3 (sinh lý bình thường chỉ co ngắn 1/3) Dùng phương pháp cơ ký (myographe) để ghi đồ thị cơ co (một đầu cơ phải cố định).

Tác giả: Sưu tầm

Lý thuyết về co cơ

Lý thuyết về co cơ

Theo thuyết này, cơ co là do các sợi actin trượt trên sợi myosin và tiến laị gần nhau (có 2 hình thức co cơ: đẳng trương và đẳng kế). Tóm tắt như sau:

Tác giả: Sưu tầm

TỪ KHÓA

Copyright © 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute All Rights Reserved

Viện Y học bản địa Việt Nam
Địa chỉ: Số 166, đường Tích Lương, tổ 1, phường Tích Lương
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại bàn: 0280 2211 686
Di động: 0913 256 913 (Bs. Hoàng Sầm)
Email: bacsysaman@gmail.com
Fanpage: Viện Y học bản địa Việt Nam