• Hotline: 1900 8913
    • Nhánh 1: Liên hệ sản xuất kinh doanh thực phẩm chức năng và thực phẩm bảo vệ sức khỏe
    • Nhánh 2: Liên hệ sản xuất kinh doanh mỹ phẩm từ dược liệu
    • Nhánh 3: Liên hệ phòng khám Viện Y học bản địa Việt Nam
    • Nhánh 4: Liên hệ hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
    • Nhánh 5: Liên hệ du lịch dược liệu Tả Phìn Hồ - Hà Giang
    • Nhánh 6: Liên hệ Bs Hoàng Sầm
Chia sẻ bài viết

Đa chấn thương

Đa chấn thương là những bệnh nhân có từ 2 tổn thương nặng trở lên ở các vùng hoặc các hệ thống cơ quan khác nhau, trong đó có ít nhất một tổn thương hoặc kết hợp các tổn thương đe doạ tính mạng BN (làm rối loạn chức năng hô hấp, tuần hoãn).

I – KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG

1 – Khái niệm:

Đa chấn thương là những bệnh nhân có từ 2 tổn thương nặng trở lên ở các vùng hoặc các hệ thống cơ quan khác nhau, trong đó có ít nhất một tổn thương hoặc kết hợp các tổn thương đe doạ tính mạng BN (làm rối loạn chức năng hô hấp, tuần hoãn).

Theo định nghĩa, để có đa chấn thương phải có 2 điều kiện đó là:

– Bệnh nhân có từ 2 tổn thương nặng trở lên ở các vùng hoặc các hệ thống cơ quan khác nhau

– Có ít nhất một tổn thương hoặc kết hợp các tổn thương đe doạ tính mạng BN  

2 – Đặc điểm tổn thương đa chấn thương:

– Chấn thương phức tạp, mất máu, rối loạntuần hoãn, hô hấp cấp nặng, các quá trình bệnh lý tác động qua lại với nhau làm tăng thêm tính trầm trọng.

– Chẩn đoán khó khăn, dễ bỏ sót các tổn thương nặng do trịeu chứng của các tổn thương khác che lấp

– Tiên lượng thường khó.

– Điều trị khó khăn, nhất lại việc ưu tiên xử trí các tổn thương.

II – CÁC RỐI LOẠN CHỨC NĂNG HÔ HẤP, TUẦN hoãn, TRI GIÁC TRONG ĐA CHẤN THƯƠNG

1 – Rối loạn hô hấp:

Rối loạn hô hấp có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc nằm trong bệnh cảnh sốc chấn thương cùng với rối loạn tuần hoãn và rối loạn tri giác. có hai nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn hô hấp ở BN đa chấn thương đó là: các tổn thương ở cơ quan hô hấp và do tổn thương hệ thần kinh trung ương. rối loạn hô hấp có thể là hậu quả của tình trạng suy tuần hoãn, đau hoặc tăng nhu cầu chuyển hóa do chấn thương. Một số tổn thương là nguyên nhân gây rối loạn hô hấp bao gồm:

– Gãy xương sườn

 – Mảng sườn di động

– Tràn khí màng phổi

– Tràn máu màng phổ

– Tổn thương phổi phế quản

– Các nguyên nhân khác như: chấn thương hàm mặt, tổn thương cơ hoãn…

2 – Rối loạn tuần hoãn:

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn tuần hoãn ở BN đa chấn thương, các nguyên nhân này có thể đơn độc hoặc phối hợp dẫn đến một tình trạng điển hình là sốc chấn thương. giảm lượng máu TM trở về là nguyên nhân cơ bản, đây là hậu quả chủ yếu của tình trạng giảm khối lượng tuần hoãn do mất máu. ngoài ra còn có do các nguyên nhan chèn ép tim doặc chấn thương tủy sống. Trên lâm sàng có thể chia sốc chấn thương làm 3 nhóm: sốc mất máu, sốc do chèn ép tim và sốc tủy

+ Các nguyên nhân gây mất máu:

– Chảy máu ngoài: VT mạch máu, gãy hở xương lớn, VT phần mềm rộng, dập nát chi

– Chảy máu tron ổ bụng: CT, VT bụng tổn thương tạng đặc hoặc các mạch máu lớn

– Chảy máu trong khoãng màng phổi: VT, VT thấu ngực có tràn máu KMP

– Chảy máu sau phúc mạc: gãy xương chậu, CT, VT thận – Chảy máu giữa các vách cơ và dưới da: gãy kín xương lớncó tổn thương mạch máu

+ Các nguyên nhân gây chèn ép tim:

– Tràn khí màng phổi áp lực do CT hoặc VT thấu ngực có tổn thương nhu mô phổi, khí phế quản

– Tràn máu, tràn khí màng phổi nặng trong CT hoặc VT ngực

– Tràn máu màng ngoài tim do CT hoặc VT tim

– Mảng sườn di động

3– Rối loạn tri giác:

Rối loạn tri giác ở BN đa chấn thương có thể do chấn thương sọ não hoặc do tổn thương não mà nguyên nhân là sốc hoặc suy hô hấp và cũng có thể do kết hợp những nguyên nhân trên

+ Do chấn thương sọ não, được giải thích theo những cơ chế sau:

– Do tổn thương sợi trục lan toả làm cắt đường dẫn truyền giữa vỏ não và gian não, thân não trong bán cầu não. chán thương có thể phá hủy neuron, nhưng cũng có thể chỉ làm rối loạn chức năng neuron và có thể hồi phục

– Do tăng áp lực nội sọ: là hậu quả của máu tụ nội sọ, dập não, phù não sau chấn thương. tăng áp lực nội sọ gây ra tổ thương lan tỏa ở bán cầu do giảm áp lực tưới máu não và lưu lượng máu não, gây thiếu máu thậm chí hoại tử.

– Do tình trạng thiếu oxy não thứ phát: Sau các rối loạ hô hấp hoặc tuần hoãn, thường gặp trong bệnh cảnh sốc đa chấn thương có hoặc không có chấn thương sọ não kết hợp Mức độ rối loạn tri giác phản ánh độ nặng của các rối loạn hô hấp hoặc tuần hoãn ở BN đa chấn thương có chấn thương sọ não, thì chính tụt HA, thisu oxy và ưu thán do rối loạn tuần hoãn và hô hấp là những nguyên nhân nguy hiểm nhất gây tổn thương não thứ phát.

III – CÁC BƯỚC ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ ĐA CHẤN THƯƠNG

Hệ thống cấp cứu điều trị chấn thương nói chung và đa chấn thương nói riêng bao gồm 2 giai đoạn: công tác phân loại cấp cứu trước bệnh viện và công tác cấp cứu điều trị, phục hồi chức năng tại bệnh viện

1 – Công tác đánh giá phân loại cấp cứu trước bệnh viện:

Mục đích của đánh giá, phân loại trước bệnh viện là phát hiện những bệnh nhân có tổn thương cần được cấp cứu, điều trị và thứ tự ưu tiên

+ Các biện pháp cấp cứu trước bệnh viện có 2 mức độ:

– Cấp cứu không xâm nhập (BLS): hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực, cố định xương gãy và vận chuyển

– Cấp cứu xâm nhập : đặt nội khí quản, đạt catether tĩnh mạch, tiêm thuốc…

2 – Các bước đánh giá cấp cứu, điều trị tại bệnh viện:

2.1 – Đánh giá ban đầu và hôi sinh:

Mục đích: nhằm phát hiện và đánh giá mức độ tổn thương đang trực tiếp đe doạ tính mạng, những thương tổn nếu không xử trí kịp thời BN sẽ tử vong. Hệ thống tiếp cận ABC là biện pháp được áp dụng phổ biến.

A Kiểm soát đường thở (Airway)

+ Đây là công việc đầu tiên, trong đa chấn thương tắc ngẽn đường thở có thể do các tổn thương:

– CTCSTS cổ – CT, VT hàm mặt có máu , dị vật trong đường thở

– CT sọ não

– Bỏng hô hấp, mặt, cổ

– CT, VT vùng cổ có hoặc không tổn thương khí quản

– CT, VT ngực

– Biện pháp: Để đảm bảo lưu thông đường thở có thể bắt đầu bằng biện pháp đơn giản như đạt tư thế đầu BN, ưởn cổ, nâng hàm, cố định cổ trong tổn thương cọt sống cổ, lấy dị vật đường thở bằng nghiệp pháp Hemlich, lau hút đờm dãi trong miệng và khí quản Có thể thực hiện các kỹ thuật kiểm soát đường thở như: cắm kim to qua màng giáp nhẫn, đặt ống nội khi quản, mở màng sụn giáp nhẫn hoặc mở khí quản nếu có chỉ định

B: Đảm bảo thông khí (Breathing)

Các tổng thương ngực đe doạ tính mạng BN cần được chẩn đoán kịp thời bằng các triệu chứng lâm sàng và phải xử trí khẩn cấp đó là:

+ Tràn khí màng phổi áp lực và trán khí màng phổi nặng

+ Mảng sườn di động

+ Tràn máu màng phổi nặng

+ Vết thương ngực hở

– chèn ép tim cấp do tràn máu màng tim

C: Đánh giá tình trạng tuần hoãn và cầm máu(Circulation):

+ Phải đánh giá được BN có sốc không? mức độ sốc? Thể loại của sốc và nguyên nhân

– Tiến hành các biện pháp:

+ Lập 2 đường truyền TM: TM ngoại vi vf TM trung ương

+ Nhanh chóng xác định các chỉ số huyết động (mạch, HA, ALTMTW) lấy máu làm XN

+ Đặt thông bàng quang theo dõi nước tiểu 24h, thiết lập hệ thống theo dõi mạch, HA, độ bão hoà oxy

– Chống chảy máu ngoài: băng bó, kẹp mạch, garo

– Nhanh chóng không phục máu lưu hành: lượng máu, dịch cần bù phụ thuốc vào lượng máu mất và các chỉ số huyết động

D: Đánh giá chức năng hệ thần kinh (Disability)

Đánh giá chức năng thành kinh trung ương trong giai đoạn cấp cứu bước đầu bằng thang điểm Glasgow và tình trạng đồng tử.

E : Bộc lộ và đánh giá toàn diện (Exposure)

BN phải được cởi bỏ quần áo và bộc lộ hoãn toàn, tất cả các VT phảiđược kiểm soát đặc biệt phía sau lưng, khi đó BN phải được giử ấm, và nhiệt độ phải được kiểm soát càng sớm càng tốt

2.2 – Đánh giá bước 2:

Là công cấp cứu tại bệnh viện được thực hiện sau khi công tác đánh giá bước đầu và hồi sinh tổng hợp hoãn thành Mục đích: khám xét toàn diện để xác định tổn thương, đánh giá mức độ, xác định chiến thuật và phương pháp điều trị Nội dung của đánh giá bước 2 bao gồm:

– Khám xét lâm sàng toàn diện từ đầu đến chân: sọ não, cột sống cổ, ngực, bụng, xương chậu, chi thể.

– Chỉ định và thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng để chẩn đoán

2.3 – Theo dõi và đánh giá lại:

đánh giá lại là việc làm thường xuyên trong suốt quá trình cấp cứu và điều trị đa chấn thương. tiến hành đánh giá lại sau quá trình đánh giá lần 2 là để khẳng định không bỏ sót tổn thương nào trước khi điều trị

2.4 – Điều trị thực thụ:

Điều trị đa chấn thương là giai đoạn xử trí các tổn thương theo các bước của chiến thuật điều trị. Chiến thuật điều trị đa chấn thương chính là việc xác định thứ tự ưu tiên và cách thức xử trí các tổn thương. theo thứ tự ưu tiên tổn thương trong đa chấn thương gồm:

+ Ưu tiên số 1: PT cấp cứu khẩn cấp:

– Tắc ngẽn đường thở,

– Tràn khi, tràn máu KMP nặng

– Mảng sườn di động 

– Chèn ép tim

+ Ưu tiên số 2: PT cấp cứu không trì hoãn

– Chảy máu trong ổ bụng

– Chấn thương ngực có thương tổn mạch máu lớn cần mở ngực,

– Máu tụ nội sọ, lún sọ

– Vết thương nhãn cầu

– Tổn thương tạng rỗng

+ Ưu tiên số 3: PT trì hoãn

– Gãy không vững cột sống

– Thương tổn vùng mặt không chảy máu nhiều

– Gãy kín xương chi

– Tổn thương phần mềm

-Thường được tổ chức 2 kíp mổ song song và dưới sự điều hành của bác sỹ gây mê hồi sức

NGUỒN

ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI

Trang web : www.ykhoaviet.tk

Email : lesangmd@gmail.combachkhoayhoc@gmail.com 

Điện thoại : 0973.910.357

Viện Y học bản địa Việt Nam trân trọng cảm ơn BS Lê Đình Sáng đã chia sẻ nội dung trên! 

Doctor SAMAN

0 bình luận

Nhân một trường hợp xơ gan cổ trướng ở xã Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang

Lèng Lao Niên sinh năm 1975 quê quán Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang. Theo như bệnh nhân chia sẻ ông phát hiện mình mắc...

Teo não – nguyên nhân và điều trị

Teo não là một hội chứng của nhiều bệnh ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động bình thường cũng như kích thước não. Phần lớn trên...

Bài thuốc nam hiệu quả với u nang buồng trứng

U nang buồng trứng là hiện tượng Nang buồng trứng của nữ giới phát triển thành một khối u bất thường. Khối u này thường làm rối loạn...

Lupus ban đỏ hệ thống, nhân một trường hợp hướng đi từ thuốc Nam

Vào giữa tháng 5 năm 2014 phòng khám Viện Y học bản địa Việt Nam tiếp nhận bệnh nhân Triệu Văn Slìn, quê xã Tri Lễ, huyện Văn...

Hội chứng nôn mửa chu kỳ

Bệnh nôn mửa chu kỳ có thể sáu đến mười hai giờ/ lần nôn mửa, kéo dài như vậy trong 5-7 ngày trong một tháng, tháng sau lặp...