Chia sẻ bài viết

Kết quả bước đầu nghiên cứu hợp chất hoá học có hoạt tính sinh học trong một số loại thực vật dùng làm thuốc ở vùng núi phía bắc

Nước Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật phát triển phong phú, đa dạng, nhiều loại cây có giá trị lớn: để lấy gỗ, làm thực phẩm, dược liệu chữa bệnh… Từ xa xưa cho đến nay, ông cha ta đã biết sử dụng nhiều loại cây để chữa bệnh,...

1.Mở đầu

nghien cuuNước Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật phát triển phong phú, đa dạng, nhiều loại cây có giá trị lớn: để lấy gỗ, làm thực phẩm, dược liệu chữa bệnh… Từ xa xưa cho đến nay, ông cha ta đã biết sử dụng nhiều loại cây để chữa bệnh, có rất nhiều bài thuốc quí được nhân dân ta truyền lại có thể chữa được các bệnh nan y mà việc tìm kiếm nó lại rất đơn giản, kinh tế, do nguyên liệu lấy từ các loại cây quanh ta [1,4].

Trong thực tế có nhiều loại cây có tác dụng chữa bệnh đã được nghiên cứu kỹ, có rất nhiều loại hiện nay được sử dụng mang tính kinh nghiệm, ví dụ như cây hoa mua, cây bọ mẩy, cây bạch hoa xà, cây hoa thiên lý, cây mần tưới, cây cối xay…

Các công trình nghiên cứu thành phần hóa học một cách đầy đủ về các loại cây này còn rất ít, nên chúng tôi đã tiến hành ngiên cứu  thành phần hóa học có trong các loại cây nói trên, nhằm góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc ở vùng núi phía Bắc. Trong bài viết này chúng tôi xin nêu một phần những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi đã thu được.

2. Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng các phương pháp chiết, tách, các phản ứng định tính, phương pháp trọng lượng, phương pháp Kjeldahl…theo các tài liệu [2,3,5] để xác định hàm lượng chất hòa tan, xác định sự có mặt của một số nhóm chất hữu cơ, định lượng flavonoit, saponin và phân tích định tính flavonoit, saponin bằng sắc ký giấy và sắc ký lớp mỏng.

3. Kết quả thảo luận

3.1. Xác định hàm lượng chất hòa tan.

Tiến hành xác định hàm lượng chất hòa tan, chúng tôi đã thu được kết quả sau:

Rau sam

Cây hoa mua

Cây thanh táo

Lá bọ mẩy

Cây tu lình

Cây hoa thiên lý

Lá cây bạch hoa xà

46,42%

21,05%

42,54%

37,50%

79,90%

50,71%

25,34%

Ta thấy hàm lượng chất hòa tan tương đối lớn. Lợi dụng tính chất này mà người ta dùng làm thuốc bằng cách sắc nước uống; dùng lá bọ mẩy đun nước tắm cho trẻ em, hay dùng nước sắc lá bọ mẩy để chữa một số bệnh sốt cao, nhức đầu, tâm phiền khát nước, quai bị, sốt bại liệt (PAA), dùng lá cây bạch hoa xà để trị mụn nhọt…

3.2. Xác định định tính các nhóm chất.

Để xác định sự có mặt các nhóm chất hữu cơ thiên nhiên chúng tôi tiến hành theo các phương pháp [2,3,4]. Kết quả thu được như sau:

stt 

Tên nhóm chất

Rau bồ khai

Rau sam

Cây hoa mua

Cây thanh táo

Lá bọ mẩy

Cây tu lình

Hoa thiên lý

Lá cây bạch hoa xà

1

Ancalot

+

+

+

2

Cumarrin

+

+++

++

+

++

+++

++

3

Glycozit tim

++

++

+

+++

++

++

4

Saponin

++

++

+++

+++

++

++

+

5

Flavonoit

+

+

++

++

++

+

+

++

6

Xianua

+

+

+

+

+

++

+++

7

Dầu béo

+

+

++

+

+

++

++

++

              Kết luận:     – : không có       +: có mặt       ++: rõ        +++: rất rõ

Như vậy chúng ta thấy trong các mẫu nghiên cứu có chứa nhiều nhóm chất có hoạt tính sinh học cao, điều đó giải thích tại sao chúng có thể được dùng làm thuốc để chữa nhiều loại bệnh trong dân gian.

3.3. Định lượng và xác định định tính flavonoit, saponin.

3.3.1. Định lượng flavonoit và saponin  toàn phần.

Xác định flavonoit và saponin toàn phần có trong mẫu nghiên cứu bằng dung môi cồn 900 và nước, thu được hàm lượng trung bình theo bảng sau:

  stt  

  Tên nhóm chất   

  Rau bồ khai 

  Rau sam  

  Cây hoa mua  

  Cây thanh táo  

  Lá bọ mẩy  

 Cây tu lình 

 Lá cây bạch hoa xà 

1

% flavonoit

0,93

0,34

2,06

0,28

0,97

0,19

0,64

2

% saponin

1,59

1,07

 

0,88

1,91

7,89

 

Kết quả thu được chứng tỏ hàm lượng flavonoit và saponin trong cây là tương đối lớn, hợp chất flavonoit có hoạt tính sinh học cao, chữa bệnh ung thư, mất ngủ, cao huyết áp…song cần phải biết rõ loại nào có tác dụng tốt nhất, vấn đề này cần phải tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra được phương thuốc quí giá.

3.3.2. Định tính flavonoit bằng sắc ký giấy và bản mỏng.

Để xem có bao nhiêu hợp chất loại flavonoit trong mẫu nghiên cứu chúng tôi tiến hành định tính bằng sắc ký giấy trong nhiều hệ dung môi khác nhau và thấy hệ dung môi n-butanol-axit axetic-nước ( 4:1:5) là tách tốt hơn cả. Sắc ký bản mỏng trong hệ dung môi toluen-eylaxetat-axit fomic (5:4:1), hiện màu bằng dung dịch hỗn hợp FeCl3 1% + K3[Fe(CN)6] 1% . Dưới đây là một số kết quả sắc đồ sắc ký được mô phỏng như sau:

hinh

3.3.3. . Định tính saponin bằng sắc ký bản mỏng.

Để biết có bao nhiêu hợp chất loại saponin trong mẫu nghiên cứu chúng tôi tiến hành định tính bằng sắc ký lớp mỏng trong hệ dung môi  n-butanol-axit axetic-nước ( 4:1:5), phun bằng dung dịch H2SO4 20% trong metanol. Dưới đây là một số thí dụ về kết quả sắc đồ sắc ký được mô phỏng như sau:

hinh a

4. Kết luận.

   Kết quả trên cho thấy các loại cây trên đều có mặt các nhóm chất thiên nhiên là những hợp chất có hoạt tính sinh học cao, đó là nguyên nhân chúng có khả năng chữa bệnh. Song cần phải có những nghiên cứu ứng dụng tiếp theo để có thể áp dụng vào việc chữa bệnh một cách có hiệu quả.

GS. Hứa Văn Thao và cộng sự

Nghiên cứu viên cao cấp

Viện Y Học Bản Địa Việt Nam

Doctor SAMAN

0 bình luận

Nhân một trường hợp xơ gan cổ trướng ở xã Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang

Lèng Lao Niên sinh năm 1975 quê quán Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang. Theo như bệnh nhân chia sẻ ông phát hiện mình mắc...

Teo não – nguyên nhân và điều trị

Teo não là một hội chứng của nhiều bệnh ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động bình thường cũng như kích thước não. Phần lớn...

Bài thuốc nam hiệu quả với u nang buồng trứng

U nang buồng trứng là hiện tượng Nang buồng trứng của nữ giới phát triển thành một khối u bất thường. Khối u này thường làm rối loạn...

Lupus ban đỏ hệ thống, nhân một trường hợp hướng đi từ thuốc Nam

Vào giữa tháng 5 năm 2014 phòng khám Viện Y học bản địa Việt Nam tiếp nhận bệnh nhân Triệu Văn Slìn, quê xã Tri Lễ, huyện Văn...

Hội chứng nôn mửa chu kỳ

Bệnh nôn mửa chu kỳ có thể sáu đến mười hai giờ/ lần nôn mửa, kéo dài như vậy trong 5-7 ngày trong một tháng, tháng sau lặp...