Miễn dịch và cơ chế miễn dịch của bệnh Vảy nến

   Vảy nến - yhocbandia.vn

   Bệnh Vảy nến là tình trạng viêm mạn tính của da do nhiều yếu tố tác động lên cơ chế bệnh sinh bao gồm yếu tố về gen (HLA Cw6, PSORS1-9), các yếu tố kích hoạt (vi khuẩn, vi rút, thuốc, stress…), hệ miễn dịch với vai trò của lympho T, các cytokine… gây ra tình trạng quá sản và rối loạn phát triển của tế bào sừng. Bệnh chiếm tỷ lệ khoảng 2,5% dân số thế giới nhưng tỷ lệ cao hơn ở người châu Âu – Mỹ da trắng, thấp hơn ở người châu Á – Phi, trong đó thể bệnh trung bình và nặng chiếm khoảng gần 30%. Bệnh ít khi gây tử vong nhưng ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, khả năng sinh hoạt, lao động của người bệnh.

Trong bệnh vẩy nến, tế bào miễn dịch di chuyển từ lớp hạ bì đến lớp biểu bì, kích thích các tế bào da (tế bào sừng) để sinh sôi nảy nở. Bệnh vẩy nến dường như không phải là một bệnh tự miễn dịch thực sự .Trong một bệnh tự miễn dịch, hệ thống miễn dịch lẫn lộn một kháng nguyên bên ngoài với một thành phần cơ thể bình thường, và tấn công cả hai.Tuy nhiên, trong bệnh vẩy nến, viêm không có vẻ được gây ra bởi các kháng nguyên bên ngoài (mặc dù DNA không có ảnh hưởng immunostimulatory). Các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều của các tế bào miễn dịch có liên quan đến bệnh vẩy nến, và hóa chất báo hiệu họ gửi cho nhau phối hợp viêm. Vào cuối của quá trình này, các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như tế bào đuôi gai và tế bào T, di chuyển từ lớp hạ bì để các lớp biểu bì , tiết ra tín hiệu hóa học, chẳng hạn như yếu tố hoại tử khối u α, interleukin-1β, và interleukin-6, gây viêm , và interleukin-22, gây ra tế bào sừng để sinh sôi nảy nở.

Các hệ thống miễn dịch bao gồm một hệ thống miễn dịch bẩm sinh , và một hệ thống ứng miễn dịch .

Trong hệ thống bẩm sinh, tế bào miễn dịch có thụ thể đã tiến hóa để nhắm mục tiêu các loại protein cụ thể và kháng nguyên khác thường được tìm thấy trên các tác nhân gây bệnh.Trong hệ thống miễn dịch thích ứng, tế bào miễn dịch phản ứng với protein và kháng nguyên khác mà họ không bao giờ có thể đã thấy trước đây, được trình bày cho họ bởi các tế bào khác. Hệ thống bẩm sinh thường đi kháng nguyên trên hệ thống thích nghi. Khi hệ thống miễn dịch làm cho một sai lầm, và xác định một phần lành mạnh của cơ thể như là một kháng nguyên nước ngoài, hệ thống miễn dịch tấn công các protein, giống như trong tự miễn dịch.

Bệnh vẩy nến, DNA là một kích thích viêm. DNA kích thích các thụ thể trên tế bào đuôi gai plasmacytoid, sản xuất interferon-α, một tín hiệu kích thích miễn dịch (cytokine). Bệnh vẩy nến, tế bào sừng sản xuất peptide kháng khuẩn. Trong phản ứng với các tế bào đuôi gai và tế bào T, họ cũng sản xuất các cytokine như interleukin-1, interleukin-6, và yếu tố hoại tử khối u-α, mà các tín hiệu có nhiều tế bào viêm đến và sản xuất viêm hơn nữa. 

Tế bào đuôi gai cầu hệ thống miễn dịch bẩm sinh và thích nghi. Họ đang tăng lên trong tổn thương vẩy nến và gây ra sự gia tăng của tế bào T và helper type 1 tế bào T. Một số tế bào đuôi gai có thể sản xuất yếu tố hoại tử khối u-α, trong đó kêu gọi các tế bào miễn dịch và kích thích viêm nhiễm hơn. Mục tiêu điều trị liệu pháp miễn dịch, và psoralen và tia cực tím A (PUVA), làm giảm số lượng của các tế bào đuôi gai. 

Các tế bào T di chuyển từ lớp hạ bì vào lớp biểu bì.  Chúng nó được thu hút vào lớp biểu bì của alpha-1 beta-1 integrin, một phân tử tín hiệu trên các collagen ở lớp biểu bì. Trong bệnh Vẩy nến tế bào T tiết ra interferon-γ và interleukin-17 . Interleukin-17 cũng có liên quan với interleukin-22 . Interleukin-22 gây ra keratocytes để sinh sôi nảy nở. 

Một giả thuyết là bệnh vẩy nến có liên quan đến một khiếm khuyết trong các tế bào T quy định, và quy định trong các cytokine interleukin-10. 

Gần đây, với việc tìm ra nhiều yếu tố liên quan đến cơ chế sinh bệnh Vảy nến, đặc biệt vai trò quan trọng của hệ miễn dịch với sự tham gia của tế bào lympho T đã tìm ra một hướng mới trong điều trị vảy nến, đó là các chất sinh học có tác dụng cắt đứt tương tác tế bào lympho T và các thành phần liên quan khác. Để hiểu rõ hơn, trước khi đề cập đến các sản phẩm sinh học điều trị vảy nến, chúng ta cùng nhắc lại các bước chính của cơ chế miễn dịch (là một trong những cơ chế quan trọng nhất) trong Vảy nến:

1. Các kháng nguyên bên ngoài (yếu tố kích hoạt: vi khuẩn, vi rút … ) được các tế bào trình diện kháng nguyên (Antigen Presenting Cell- APC; ở da có tế bào Langerhan, tế bào đuôi gai – Dendritic Cell) xử lý và di chuyển đến các hạch bạch huyết lân cận gây hoạt hoá các tế bào lympho T CD45RA+(T naive)

2. Inter-Cellular Adhesion Molecule 1 (ICAM-1 tạm gọi là: phân tử gắn kết các tế bào nhóm 1, còn có tên khác là CD54) trên bề mặt tế bào APC sẽ tương tác với LFA-1 (Lymphocyte function-associated antigen-1) trên tế bào T. Tiếp theo đó, kháng nguyên đã gắn với MHC (Major Histocompatability – yếu tố phù hợp tổ chức chủ yếu) trên APC sẽ gắn vào thụ cảm thể và đồng thụ cảm thể CD4/CD8 trên tế bào T sinh ra “tín hiệu 1”. Bên cạnh đó, quá trình tương tác còn được tạo bởi sự gắn kết giữa các phần tử CD28 và CD80 (B7.1), CD28 và CD86 (B7.2), CD40 là CD40L, LFA3 và CD2 của 2 tế bào tạo ra “tín hiệu 2”. Qua quá trình trên lympho T sẽ được hoạt hoá.

3. Lympho T hoạt hoá sẽ tạo ra nhiều cytokine bao gồm IL-12 (interleukin 12), TNF-alpha (Tumor Necrosis factor alpha), IFN-gamma (interferon gamma) và IL-2 (interleukin 2). Từ đó lympho T phát triển và biệt hoá thành T CD45RO(T nhớ).

4. T nhớ sẽ bộc lộ CLA (cutaneous lymphocyte-associated antigen) ra bề mặt tế bào để gắn với e-selectin của tế bào nội mô lòng mạch, cùng với sự gắn kết LFA-1 với ICAM-1 giúp cho các tế bào T thoát khỏi lòng mạch và di chuyển đến da. Ngoài ra các cytokine do tế bào sừng tiết ra có vai trò lôi kéo các tế bào T nhớ đi chính xác đến các vị trí viêm.

5. Tại vùng da viêm, bạch cầu T tiếp xúc với tế bào trình diện kháng nguyên APC, sẽ được hoạt hoá lại và tiết ra các cytokine như TNFalpha, IFNgamma làm kích thích các tế bào sừng phát triển, quá sản, rối loạn biệt hoá gây ra các triệu chứng lâm sàng vảy nến.

Ths Bs Lâm Văn Tiên

Nghiên cứu viên cao cấp

Viện Y học bản địa Việt Nam

Doctor SAMAN

Đăng bình luận

Hãy chọn ô phía trên để xác nhận

Các bình luận trước đó