Chia sẻ bài viết

Ung thư gan

Ung thư gan nguyên phát xảy ra khi tế bào (ác tính) ung thư bắt đầu lớn lên trong gan. Mặc dù tỷ lệ ung thư nói chung đang giảm xuống, nhưng tỷ lệ ung thư gan nguyên phát ở Mỹ tăng hơn 70% từ năm 1975 đến 1995. Sự gia tăng này liên quan đến tăng tỷ lệ nhiễm...

1. TỔNG QUAN

Ung thư gan nguyên phát xảy ra khi tế bào (ác tính) ung thư bắt đầu lớn lên trong gan. Mặc dù tỷ lệ ung thư nói chung đang giảm xuống, nhưng tỷ lệ ung thư gan nguyên phát ở Mỹ tăng hơn 70% từ năm 1975 đến 1995. Sự gia tăng này liên quan đến tăng tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C – nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ung thư gan. Tuy nhiên, hay gặp hơn ung thư gan nguyên phát, là ung thư khi các khối u từ những nơi khác của cơ thể di căn tới gan. Gan đặc biệt dễ bị xâm nhập bởi các tế bào khối u và ngoại trừ hạch lympho, là vị trí di căn hay gặp nhất Vì ung thư gan rất hiếm khi được phát hiện sớm, tiên lượng thường là xấu. Thậm chí ở những trường hợp tiến triển, việc điều trị có thể giúp làm giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống. Hơn nữa điều trị chuẩn như phẫu thuật, hóa trị liệu và xạ trị liệu, các liệu pháp ít xâm lấn mới và có thể là lựa chọn cho một số người. Nhưng những tin tức khích lệ nhất về ung thư gan là có thể làm giảm phần lớn nguy cơ ung thư gan bằng cách tiêm phòng viêm gan B (HBV) bằng vaccin. Thay đổi cách sống có thể giúp ngăn ngừa các nguyên nhân lớn khác gây ung thư gan như viêm gan C và xơ gan.

2. DỊCH TỄ HỌC

Ung thư gan là loại ung thư gây tử vong nhiều nhất trên thế giới. Ở nhiều vùng của Trung Quốc, Đông Nam Á và vùng sa mạc Sahara Châu Phi ung thư gan là một trong những ung thư phổ biến nhất ở nam giới . Ung thư tế bào gan là loại ung thư thường gặp nhất. Ung thư gan thường gặp nhất ở khoảng 50 tuổi. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới

3. DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG

Hầu hết nhiều người không có dấu hiệu và triệu chứng ở giai đoạn ung thư gan sớm, có nghĩa là bệnh này không được phát hiện cho đến khi nó đã khá muộn. Khi các triệu chứng xuất hiện, các triệu chứng có thể gồm một số hoặc tất cả các triệu chứng sau:

– Chán ăn và sụt cân

– Đau bụng, đặc biệt ở hạ sườn phải và có thể đau xiên đến lưng và vai.

– Buồn nôn và nôn.

– Thường xuyên thấy yếu và mệt mỏi.

– Gan to.

– Cổ chướng.

– Vàng da vàng mắt do tích bilirubin

– phần còn lại của tế bào hồng cầu giáng hóa. Bình thường, gan xử lý bilirubin và vì vậy có thể loại trừ bilirubin ra khỏi cơ thể. Nhưng bệnh gan có thể gây tích luỹ chất này trong máu, biểu hiện trên da và củng mạc mắt và làm nước tiểu có màu vàng xậm.

4. NGUYÊN NHÂN

Gan nặng từ 1,35-1,8 cân và có kích cỡ như quả bóng, gan của bạn là nội tạng lớn nhất trong cơ thể. Gan nằm ở hạ sườn phải, dưới cơ hoành và bên trên dạ dày. Gan được chia làm 2 thùy chính. Mỗi thùy được tạo ra từ hàng ngàn thùy nhỏ hơn (tiểu thùy), nối với nhau bằng hệ thống ống mật. Các tiểu thùy là những phần thực hiện chức năng gan và thực hiện hàng trăm nhiệm vụ sống còn đối với sức khỏe . Gan xử lý hầu hết các chất dinh dưỡng đã được hấp thu từ ruột non và định lượng đường (glucose), protein, chất béo vào trong máu. Gan cũng sản sinh các yếu tố đông máu và các protein và mỗi ngày sản sinh gần 1/4 lượng mật – dịch mật giúp cơ thể chuyển hóa chất béo trong cơ thể . Gan cũng thực hiện một chức năng quan trọng là khử độc bằng cách thải trừ thuốc, rượu và các chất có hại khác từ máu . Vào bất cứ lúc nào gan cũng giữ khoảng 13% lượng máu trong toàn cơ thể, máu vào gan qua 2 hệ mạch máu: tĩnh mạch chủ và tĩnh mạch cửa.

Vì gan có nhiều chức năng phức tạp và phải tiếp xúc với quá nhiều chất độc tiềm tàng, gan đặc biệt dễ bị bệnh. Nhưng gan có khả năng tái tạo đáng ngạc nhiên – tự nó có thể lành bệnh bằng cách thay thế hoặc phục hồi mô đã bị tổn thương. Hơn nữa, các tế bào lành sẽ làm giúp chức năng của các tế bào đã tổn thương, vô thời hạn hoặc cho tới khi các tế bào bị tổn thương được phục hồi. Mặc dù vậy, gan dễ bị một bệnh mà có thể gây ra tổn thương gan nặng hoặc không thể hồi phục. Một trong những bệnh này là ung thư gan nguyên phát. Trong ung thư gan một số tế bào bắt đầu phát triển bất thường. Hoàn toàn không hiểu được tại sao điều này xảy ra, nhưng các nhà nghiên cứu tin là ung thư bắt đầu bằng tổn thương ADN – chất liệu chính chứa các hướng dẫn để xử lý mọi hóa chất trong cơ thể , bao gồm tốc độ phát triển tế bào. Tổn thương ADN làm thay đổi những chỉ dẫn này. Kết quả là các tế bào này có thể bắt đầu phát triển ngoài sự kiểm soát và thậm chí hình thành khối u – một khối các tế bào ung thư.

Các yếu tố làm tổn thương ADN của tế bào gan là:

– Viêm gan B và viêm gan C. Trên toàn thế giới, nhiễm virus viêm gan B (HBV) hoặc virus viêm gan C (HCV) mạn tính là nguyên nhân hay gặp nhất gây ung thư gan. Cả hai loại viêm gan có khả năng lây rất cao. HBV lây qua đường tình dục không an toàn và dùng chung bơm kim tiêm. Ngoài ra, bà mẹ mang virus có thể truyền sang cho con. HCV ban đầu lây qua truyền máu chưa được sàng lọc đối với HCV, thông qua bơm kim tiêm bẩn trong tiêm chích ma tuý hoặc ít gặp hơn là qua xăm mình hoặc bấm lỗ tai. Ở một số trường hợp, HCV có thể lây qua đường tình dục.

– Xơ gan. Ở Mỹ, uống rượu là nguyên nhân phổ biến dẫn đến xơ gan – một quá trình tạo sẹo trong gan mà là do một số bệnh khác. Bệnh nhiễm sắc tố sắt mô di truyền – là do tích luỹ quá nhiều sắt trong gan và các mô khác – hoặc nhiễm mạn tính với HBV hoặc HCV cũng dẫn đến xơ gan.

– Tiếp xúc lâu dài với aflatoxin. Những chất sinh ung thư độc tính cao được hình thành khi thực phẩm và nước bị nhiễm nấm Aspergillus flavus. Aflatoxin có thể làm tổn thương gen p53, gen có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển tế bào quá mức. Mặc dù nguy cơ nhiễm aflatoxin ở Mỹ là rất nhỏ, độc tố này được thấy ở ngũ cốc và các sản phẩm ngũ cốc, lạc và các sản phẩm lạc, hạt bông, sữa, quả hạch Brazil, quả hồ đào, quả hồ trăn và quả óc chó. Kết quả là, Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ đã tiến hành một số biện pháp để xác định và đánh giá aflatoxin ở thực phẩm.

– Vinyl chlorid và dioxyt thori (Thorotrast). Vinyl chlorid là một hóa chất được dùng để sản xuất nhựa. Dioxyt thori xâm nhập vào cơ thể người qua chỉ một lần chụp phim X-quang. Cả hai hóa chất này được biết là có vai trò trong phát triển các ung thư hiếm mà ban đầu ở mạch máu trong gan (sarcom mạch). – Asen. Nước uống chứa asen, một chất gây ung thư làm tăng nguy cơ ung thư gan

5. CÁC LOẠI UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT

Có rất nhiều loại ung thư gan nguyên phát và triệu chứng gồm:

– Carcinom tế bào gan. Đây là dạng ung thư gan nguyên phát hay gặp nhất ở cả trẻ em và người lớn. Ung thư bắt đầu từ các tế bào gan, loại tế bào gan chủ yếu, nhưng có thể lan ra theo nhiều cách khác nhau như là một khối u đơn độc từ từ xâm lấn các tế bào gan khác hoặc khi ung thư lan ngay lập tức vào toàn bộ gan. Nguyên nhân phổ biến nhất của carcinom tế bào gan gồm xơ gan, nhiễm virus viêm gan B hoặc viêm gan C và ăn thực phẩm có chứa aflatoxin.

– Carcinom đường mật. Loại ung thư này bắt đầu ở các đường mật nhỏ trong gan. Một người tăng nguy cơ bị carcinoma đường mật nếu bị sỏi mật hoặc loét tiêu hóa. Các ký sinh trùng trong gan thường được phát hiện ở nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng có thể gây loại ung thư này.

– U nguyên bào gan. Loại ung thư gan hiếm gặp này hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 4 tuổi và có thể do gen bất thường. Thật may là hầu hết trẻ em bị u nguyên bào gan có thể điều trị thành công.

– Sarcoma mạch. Loại ung thư này hiếm gặp bắt đầu từ mạch máu trong gan và do tiếp xúc với các hóa chất công nghiệp như là vinyl chlorid hoặc các thuốc chứa dioxyt thori (Thorotrast). Các chất này ngày nay ít gặp. Ngành y tế đã không dùng Thorotrast từ gần 50 năm qua, và các công nhân hiện đang được bảo vệ tốt hơn tránh phải tiếp xúc với hóa chất này Ung thư di căn Ở Mỹ, hầu hết ung thư gan được phát hiện đã di căn tới các nơi khác trong cơ thể. Hơn nữa, được qui là ung thư gan, loại ung thư này thường được gọi như vậy sau khi ung thư có nguồn gốc từ gan và là loại ung thư di căn. Ví dụ, ung thư đã di căn từ gan đến đại tràng được gọi là ung thư đại tràng di căn. Ung thư di căn được hình thành khi tế bào ác tính tách riêng ra từ ung thư ban đầu và đi khắp cơ thể qua tuần hoàn hoặc hệ bạch mạch. Vì gan gần với một số nội tạng – gồm tuỵ, túi mật, dạ dày, đại tràng, vú và phổi – và vì gan là cơ quan được cung cấp nhiều máu, khối u gan đặc biệt dễ di căn. Ung thư gan thứ phát xảy ra ở hơn 75% người có ung thư các nội tạng giai đoạn muộn khác.

6. CÁC KHỐI U LÀNH TÍNH

Khối u không phải ung thư (lành tính) cũng có thể phát triển trong gan. Chúng gồm:

– U mạch. Đây là loại khối u gan lành tính hay gặp nhất. Nó tác động tới các mạch máu trong gan và kết quả thường là từ một loại mô dị tật bẩm sinh trong quá trình phát triển phôi thai. Hầu hết các u mạch của gan không gây ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng và không cần điều trị.

– U tuyến gan. Đây là loại khối u lành tính có nguồn gốc trong tế bào gan – loại chủ yếu của tế bào gan. Trong hầu hết các trường hợp u tuyến gan không gây ra dấu hiệu và triệu chứng, nhưng đôi lúc bị đau bụng, một khối ở bụng hoặc mất máu. Ta dễ bị loại khối u lành tính này nếu dùng thuốc tránh thai, nhưng biện pháp đơn giản là dừng dùng thuốc thường sẽ làm khối u nhỏ đi.

– Tăng sản hạch trọng tâm. Khối u này là một vài loại tế bào phối hợp, gồm các loại tế bào gan, tế bào đường mật và mô liên kết. Giống như các khối u lành tính khác, thường hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới và thường không gây các dấu hiệu hoặc triệu chứng.

7. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Ung thư gan có thể ảnh hưởng tới tất cả mọi lứa tuổi và mọi chủng tộc, nhưng các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ , bao gồm:

– Giới tính. Nam giới dễ bị ung thư hơn phụ nữ gấp 2-3 lần.

– Chủng tộc. Nói chung, người Mỹ gốc châu Á có tỷ lệ ung thư gan cao nhất ở Mỹ. Người Mỹ da đen và gốc Tây Ban Nha cũng có tỷ lệ cao hơn so với da trắng.

– Nhiêm virus HBV hoặc HCV mạn tính. Nhiễm virus viêm gan B hoặc nhiễm virus viêm gan C trước đó là yếu tố quan trọng nhất đối với ung thư gan. Trên toàn thế giới, nhiễm HBV gây 80% trường hợp carcinom tế bào gan. Ở Mỹ, nhiễm virus viêm gan C là yếu tố nguy cơ lớn nhất.

– Đã bị xơ gan. Bệnh tiến triển không phục hồi do các mô sẹo hình thành từ gan và làm tăng khả năng bị ung thư gan .

– Tiếp xúc với aflatoxin. Đối với người sống ở châu Phi và một số nơi ở châu Á, ăn các thực phẩm nhiễm aflatoxin làm tăng nguy cơ ung thư gan.

– Uống quá nhiều rượu. Uống rượu hơn mức vừa phải có thể dẫn đến tổn thương gan không phục hồi và tăng nguy cơ ung thư gan . Uống rượu vừa phải được xác định là không uống quá 2 chén mỗi ngày với nam giới và 1 ch n đối với phụ nữ. Uống từ 4-5 ly rượu vang, 12 cốc bia hoặc 1,5 cốc rượu mạnh.

– Hút thuốc lá. Hút bất cứ loại thuốc lá nào đều dễ bị ung thư gan. Tiếp xúc với vinyl chlorid, dioxyt thori và asen. Tiếp xúc với bất cứ hóa chất nào loại này đều gây ung thư gan.

8. SÀNG LỌC VÀ CHẨN ĐOÁN

Hiện không có xét nghiệm sàng lọc nào chính xác hoàn toàn đối với ung thư gan. Đôi lúc các bác sĩ dùng xét nghiệm máu để kiểm tra sự có mặt của alpha-fetoprotein (AFP) – một loại protein bình thường không phát hiện được ở người trưởng thành – để sàng lọc người có nguy cơ cao bị ung thư gan. Không may là, xét nghiệm này không hoàn hảo. Không phải bất cứ khối u gan ác tính nào đều sản sinh AFP, và những khối u này tiến tiển đến giai đoạn muộn thì lúc này nồng độ protein này mới tăng lên. Hơn nữa, các loại ung thư khác và thậm chí một số bệnh gan không gây ung thư có thể tăng nồng độ AFP. Mặc dù sàng lọc AFP có thể phát hiện khối u nhỏ ở một số người, hầu hết ung thư gan không được chẩn đoán sớm vì các triệu chứng thường không xuất hiện cho tới giai đoạn cuối của bệnh và vì ung thư gan phát triển quá nhanh. Các loại ung thư gan hay gặp nhất là carcinom tế bào gan, kích cỡ gan tăng lên gấp đôi mỗi 4 tháng. Việc chẩn đoán cũng khó vì ảnh hưởng của một số khối u gan có thể tương tự như những bệnh khác.

Nếu bạn bị bất cứ triệu chứng nào của ung thư gan như bị sụt cân, đau bụng kéo dài hoặc cổ chướng hoặc vàng da, hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức. Bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử y học và khám thực thể. Bác sĩ của bạn cũng sẽ làm khuyên một số xét nghiệm sau:

– Siêu âm. Đây là xét nghiệm không xâm lấn dùng sóng siêu âm để đưa ra hình ảnh của các nội tạng, gồm có gan. Siêu âm ít đau và thường chỉ mất 30 phút. Trong khi nằm ở giường hoặc bàn khám bệnh, một đầu dò được đặt vào cơ thể . Đầu dò phát ra các sóng và được phản lại từ gan và chuyển sang thành dạng có hình ảnh trên máy tính. Siêu âm đặc biệt tốt trong việc cung cấp thông tin về hình dạng, kết cấu và cấu trúc khối u.

– Chụp cắt lớp bằng máy tính (CT). Xét nghiệm này dùng tia X để đưa ra các hình ảnh cắt ngang của cơ thể . Có thể cũng phải làm nhiều xét nghiệm khác – gọi là chụp phim X – quang mạch cắt lớp – chất cản quang được tiêm vào một động mạch gan. Tia xétheo dõi chất cản quang khi nó tuần hoàn trong các mạch máu trong gan . Chụp X quang mạch máu, phải mất 1 giờ, có thể đưa ra thông tin chi tiết về số lượng và vị trí của khối u. Nguy cơ lớn nhất của xét nghiệm này là có thể phản ứng dị ứng với chất cản quang. Chụp X – quang mạch cũng có thể không dễ thực hiện vì một catheter nhỏ được đưa vào động mạch ở háng và đi đến gan .

– Chụp cộng hưởng từ (MRI). Thay vì chụp X quang, MRI tạo ra các hình ảnh bằng trường điện từ và sóng vô tuyến. Đôi lúc chất cản quang cũng được dùng. Xét nghiệm này mất 15 phút đến 1 giờ. Có thể thấy MRI không thuận tiện như chụp cắt lớp. Đó là vì phải nằm ở một phòng chật hẹp và vì máy này phát ra tiếng ồn làm rất nhiều người khó chịu. Nghe nhạc bằng tai nghe có thể giúp bớt khó chịu bởi tiếng ồn này và có thể chọn chụp cắt lớp nếu có cảm giác sợ bị nhốt.

– Quét gan. Trong xét nghiêm hình ảnh này, có một ít chất đánh dấu phóng xạ (đồng vị phóng xạ) được gắn vào với các chất khác và tiêm vào tĩnh mạch ở tay. Một camera đặc biệt (camera gamma) ghi lại các hình ảnh của chất đồng vị phóng xạ đã đi vào gan . Chụp cắt lớp gan phát hiện tổn thương do xơ gan hoặc viêm gan cũng như là sự hiện diện ban đầu của ung thư thứ phát.

– Sinh thiết gan. Trong thủ thuật này, một mẫu mô nhỏ được lấy từ khối u của bạn và được soi dưới kính hiển vi. Đây là cách để phát hiện xem liệu khối u có phải là ác tính hay không. Bác sĩ có thể dùng một chiếc kim nhỏ, có gắn đèn (dụng cụ để soi bụng) để lấy mẫu này. Nếu khối u nhỏ, siêu âm hoặc chụp cắt lớp thường được dùng để giúp xác định vùng cần sinh thiết. Kim hoặc sinh thiết nôi soi là thủ thuật tương đối đơn giản chỉ cần gây tê tại chỗ. Nguy cơ gồm thâm tím da, chảy máu, nhiễm khuẩn.

– Xét nghiệm máu. Nếu xét nghiệm thấy bị ung thư gan, bác sĩ có thể thực hiện thêm các xét nghiệm máu để kiểm tra tình trạng của mô gan không bị ung thư. Thông tin này có thể đóng vai trò để xác định điều trị tốt nhất.

9. PHÂN LOẠI TNM VÀ XẾP GIAI ĐOẠN THEO AJCC

– Bướu nguyên phát (T) :

T0 : không có bằng chứng của u

T1 : u đơn độc không xâm nhập mạch máu

T2 : u đơn độc xâm nhập mạch máu hoặc đa u nhưng không có khối u nào lớn hơn 5cm

T3 : đa u kích thước lớn hơn 5cm hoặc u xâm lấn các nhánh chính của tĩnh mạch gan hay tĩnh mạch cửa

T4 : u xâm lấn trực tiếp vào các cơ quan lân cận như túi mật hoặc làm thủng phúc mạc

– Các hạch vùng (N)

N0 : không sờ thấy hạch vùng

N1 : hạch vùng không phải di căn

N2 : hạch vùng di căn

– Di căn xa (M)

M0 : không có di căn xa

M1 : có di căn xa

XẾP GIAI ĐOẠN THEO AJCC

Giai đoạn I : T1, N0, M0

Giai đoạn II : T2, N0, M0

Giai đoạn IIIA : T3, N0, M0

Giai đoạn IIIB : T4, N0, M0

Giai đoạn IIIC : T bất kỳ , N1, M0

Giai đoạn IV : T bất kỳ , N bất kỳ, M1

10. CÁC BIẾN CHỨNG

Những người bị ung thư gan đôi lúc có thể bị suy gan, xảy ra khi gan không thể kéo dài đầy đủ chức năng. Suy gan thường xảy ra khi có tổn thương tế bào gan kéo dài. Thận cũng có thể bị suy, mất khả năng lọc máu và thải chất thải làm cho nồng độ của những chất nguy hiểm này tích luỹ trong cơ thể. Có thể có rất nhiều biến chứng, tuy nhiên lúc này ung thư gan đã di căn tới các cơ quan khác.

11. ĐIỀU TRỊ

Các liệu pháp chuẩn đối với ung thư gan nguyên phát ở người lớn gồm phẫu thuật, hóa trị liệu và xạ trị. Bác sĩ có thể cũng dùng các cách điều trị khác – gồm tiêm cồn, phẫu thuật lạnh khối u hoặc liệu pháp điện một chiều.

– Phẫu thuật. Là điều trị tốt nhất cho ung thư có thể cắt bỏ một vùng thường gọi là phẫu thuật cắt bỏ. Trong nhiều trường hợp vùng của gan nơi có khối ung thư hoàn toàn có thể cắt bỏ. Phẫu thuật cắt bỏ có thể cũng là một lựa chọn nếu có ung thư không thể cắt bỏ một vùng. không thể thực hiện cắt bỏ khối u gan nếu bị bệnh gan nặng hoặc nếu được cắt bỏ thì phần gan lành còn lại rất ít.

– Xạ trị. Cách điều trị này dùng tia X liều cao để phá huỷ tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Xạ trị có thể từ một máy bên ngoài cơ thể hoặc một số chất chứa phóng xạ được đưa vào gan của bạn. Trong một kỹ thuật thử nghiệm, xạ trị được phân phối tới các tế bào gan đặc hiệu bằng cách gắn các chất có hoạt tính phóng xạ với kháng thể – phân tử sản sinh bởi hệ miễn dịch để đáp ứng với các vi khuẩn xâm nhập. Xạ trị có thể được dùng để điều trị ung thư không thể cắt bỏ một vùng. Hoặc có thể được dùng liệu pháp xạ trị sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u để giúp phá huỷ các tế bào ung thư vẫn còn sót lại. Xạ trị có thể ảnh hưởng đến mô lành cũng như khối u và có thể gây ra tác dụng phụ như là mệt mỏi, buồn nôn và nôn.

– Hoá trị liệu. Biện pháp điều trị này sử dụng các thuốc có tác động mạnh để tiêu diệt tế bào ung thư. Hoá trị liệu có thể có tác dụng toàn thân – có nghĩa là thuốc tuần hoàn khắp cơ thể theo dòng máu – hoặc tại chỗ. Trong điều trị tại chỗ, một bơm nhỏ được đặt tạm thời vào trong ổ bụng của bạn dẫn thuốc trực tiếp vào mạch máu đi tới khối u. Có thể dùng hóa trị liệu đơn độc hoặc sau khi phẫu thuật để giúp tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại.

Hoá trị liệu hệ thống nhìn chung không hiệu quả trong điều trị ung thư gan, nhưng các loại hoá trị liệu khác – gọi là hoá trị liệu tại chỗ – là một phần quan trọng trong điều trị carcinom tế bào gan. Trong thủ thuật này, động mạch gan – động mạch chính cung cấp máu cho gan – bị làm tắc nghẽn và các thuốc hoá trị liệu được tiêm vào giữa chỗ bị nghẽn và gan. Liệu pháp hoá trị liệu tại chỗ có thể cải thiện tỷ lệ sống sót của người ung thư gan có khối u không thể cắt bỏ được. Cũng như các dạng khác của hóa trị liệu, hoá trị liệu tại chỗ có thể gây các tác dụng phụ như đau bụng, buồn nôn và nôn. Trên thực tế ở nhiều người, các tác dụng phụ của hoá trị liệu là khía cạnh khó chịu nhất trong điều trị ung thư. Các tác dụng phụ xảy ra vì hoá trị liệu gây tổn thương các tế bào lành cùng với tế bào ác tính. Các tế bào phát triển nhanh như những tế bào trong đường tiêu hóa, tuỷ xương và xương đặc biệt dễ bị ảnh hưởng. Nhưng mặc dù các tác dụng phụ là phổ biến, mức nghiêm trọng tuz thuộc vào các thuốc đã sử dụng và đáp ứng với thuốc. Đôi khi có thể có một vài phản ứng. Mặt khác, có thể trải qua các triệu chứng như buồn nôn và nôn, mệt mỏi, nhiễm trùng và rụng tóc. Điều này có thể khắc phục được bằng thuốc chống nôn thế hệ mới có thể giảm các triệu chứng đường ruột nặng nhất. Các kỹ thuật thư giãn và châm cứu, như các hình ảnh chỉ dẫn, thiền, thở sâu, cũng có thể giúp giảm buồn nôn và nôn. Cũng nên hỏi ý kiến nhóm điều trị về các tác dụng phụ của bất kỳ phương pháp điều trị nào đang cân nhắc và cách tốt nhất để giảm thiểu các tác dụng phụ đó.

– Tiêm cồn. Trong thủ thuật này, cồn nguyên chất được tiêm trực tiếp vào trong khối u, qua da hoặc trong phẫu thuật. Cồn sẽ rút nước của các tế bào trong khối u và thậm chí tiêu diệt các tế bào này. Mỗi đợt điều trị bao gồm một lần tiêm, mặc dù có thể cần tiêm nhiều lần để cho kết quả tốt nhất. Tiêm cồn là một thủ thuật đơn giản và an toàn đã cho thấy cải thiện tỷ lệ sống ở người có khối u tế bào gan nhỏ. Tiêm cồn cũng được sử dụng để giúp làm giảm các triệu chứng trong trường hợp ung thư gan di căn. Các tác dụng phụ thường nhỏ.

– Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến. Trong thủ thuật này, dòng điện một chiều trong dải tần vô tuyến được sử dụng để phá huỷ các tế bào ác tính dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp CT. Phẫu thuật viên sẽ gài một vài chiếc kim nhỏ vào một đường rạch nhỏ trên bụng . Khi những chiếc kim này tiến tới khối u, chúng được làm nóng lên bằng dòng điện một chiều, phá huỷ các tế bào ác tính. Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến được lựa chọn cho những người có khối u tế bào gan không thể cắt bỏ, nhỏ, và một số loại ung thư gan di căn. Thủ thuật này tương đối ít tác dụng phụ, và bạn có thể thường được về nhà khoảng 2-3 giờ sau khi được điều trị. Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến có hiệu quả ở 65% số trường hợp và thường thành công chỉ với các khối u nhỏ.

– Liệu pháp lạnh. Phương pháp điều trị này sử dụng nhiệt độ rất lạnh để phá huỷ các tế bào ung thư. Một phương pháp truyền thống được sử dụng để điều trị ung thư da giai đoạn sớm, liệu pháp lạnh hiện nay là lựa chọn cho những người ung thư gan nguyên phát không mổ được và ung thư gan di căn. Phương pháp này cũng có thể được sử dụng cùng với phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc các điều trị chuẩn khác. Trong thủ thuật này, bác sĩ đặt một dụng cụ có chứa nitrogen lỏng trực tiếp vào khối u gan. Dịch nitrogen lỏng có nhiệt độ dưới 320 độ F. Siêu âm được sử dụng để hướng dẫn que lạnh và theo độ lạnh ở tế bào. liệu pháp lạnh ít xâm hại hơn các phẫu thuật thông thường và chỉ cần một vết rạch nhỏ. Vì vậy dễ có khả năng liền sẹo nhanh hơn và ít các biến chứng hơn.

Các tác dụng phụ – khuynh hướng ít nghiêm trọng hơn so với phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị – bao gồm tổn thương đường dẫn mật và các mạch máu lớn, dẫn tới chảy máu hoặc nhiễm trùng. Nhưng mặt hạn chế lớn của liệu pháp lạnh là không chắc chắn về hiệu quả lâu dài.

– Ghép gan. Trong thủ thuật này, gan bị bệnh được lấy bỏ và được ghép bằng gan lành – tạng được hiến. Không may là, ghép gan hiếm khi được người bệnh ung thư gan lựa chọn vì không chắc chắn cải thiện triển vọng lâu dài. Ở hầu hết trường hợp, ung thư tái phát bên ngoài gan sau khi ghép gan.

12. BỆNH NHÂN TỰ CHĂM SÓC

Một trong những khía cạnh thách thức nhất của đời sống đối với ung thư gan là có thể ăn đủ các loại thức ăn thích hợp. Nhu cầu dinh dưỡng lúc này rất cao. Đó là do phẫu thuật, xạ trị và hóa trị liệu – cũng như bản thân mình có bệnh – cần tăng dinh dưỡng một cách đột ngột, mặc dù thường không muốn ăn. Điều trị ung thư có thể gây buồn nôn và nôn, có thể là do ung thư gan. Một số thuốc và các liệu pháp có thể cũng ảnh hưởng tới ăn uống . Lúc này đơn giản là quá mệt mỏi để ăn hoặc chán ăn vì lo lắng hoặc trầm cảm. Nhưng ăn uống tốt đóng vai trò quan trọng trong khả năng lành bệnh. Đây là các gợi ý:

– Cố gắng ăn những bữa nhỏ trong suốt cả ngày thay vì 2 hoặc 3 bữa lớn. Nếu thấy lợm giọng, nên chọn các thức ăn mềm và dễ tiêu hóa, như súp, cháo hoặc khoai tây bỏ lò.

– Nhiều người cảm thấy dễ chịu hơn vào buổi sáng. Vì lý do này, có thể muốn cố ăn nhiều vào buổi sáng và bổ xung thêm bữa bột hoặc nước hoa quả sau đó.

– Khi có thể, tăng cường những thức ăn giàu protein và nhiều calo. Trừ khi không dung nạp được đường lactose, sữa trứng khuấy là cách tốt nhất để làm tăng lượng calo và protein. Cố gắng ăn thêm hoa quả tươi hoặc protein dạng bột.

– Tham khảo ý kiến bác sĩ về việc bổ sung vitamin và muối khoáng.

– Có bữa ăn nhanh đủ dinh dưỡng dễ lấy. Cách này sẽ cảm thấy dễ ăn. Pho mát hoặc bánh qui tròn, hoa quả tươi, sữa chua hoặc nho đều là lựa chọn tốt.

– Tạo không khí thoải mái khi ăn. Một số người có thể sử dụng nến, hoa và âm nhạc; bày thức ăn thật đẹp mắt hoặc sử dụng đồ sứ Trung Quốc.

– Đừng lo lắng nếu có một ngày nào đó không thể ăn được gì. Vào lúc đó, nên làm bất cứ gì có thể cảm thấy thoải mái. Hãy cho bác sĩ biết nếu không cảm thấy tốt hơn trong 2 ngày liền.

– Cố gắng uống nhiều nước hoa quả, đặc biệt trong những ngày cảm thấy không muốn ăn. Nước cần cho mọi chức năng của cơ thể.

– Nếu tiếp tục có trục trặc về ăn uống hoặc sút cân, hãy nói chuyện với các chuyên gia dinh dưỡng. Họ có thể giúp các cách hấp thu dinh dưỡng khi cần.

 

NGUỒN

ĐẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI

Trang web : www.ykhoaviet.tk

Email : lesangmd@gmail.combachkhoayhoc@gmail.com 

Điện thoại : 0973.910.357

Viện Y học bản địa Việt Nam trân trọng cảm ơn BS Lê Đình Sáng đã chia sẻ nội dung trên!

Doctor SAMAN

0 bình luận

Nhân một trường hợp xơ gan cổ trướng ở xã Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang

Lèng Lao Niên sinh năm 1975 quê quán Đản Ván - Hoàng Su Phì - Hà Giang. Theo như bệnh nhân chia sẻ ông phát hiện mình mắc...

Teo não – nguyên nhân và điều trị

Teo não là một hội chứng của nhiều bệnh ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động bình thường cũng như kích thước não. Phần lớn trên...

Bài thuốc nam hiệu quả với u nang buồng trứng

U nang buồng trứng là hiện tượng Nang buồng trứng của nữ giới phát triển thành một khối u bất thường. Khối u này thường làm rối loạn...

Lupus ban đỏ hệ thống, nhân một trường hợp hướng đi từ thuốc Nam

Vào giữa tháng 5 năm 2014 phòng khám Viện Y học bản địa Việt Nam tiếp nhận bệnh nhân Triệu Văn Slìn, quê xã Tri Lễ, huyện Văn...

Hội chứng nôn mửa chu kỳ

Bệnh nôn mửa chu kỳ có thể sáu đến mười hai giờ/ lần nôn mửa, kéo dài như vậy trong 5-7 ngày trong một tháng, tháng sau lặp...