Sài đất ba thuỳ là một loài cây quen thuộc đến mức nhiều người coi là cỏ dại. Cây bò sát mặt đất, đốt dễ ra rễ, lá thường chia ba thuỳ, hoa vàng nhỏ, mọc rất nhanh ở bờ ruộng, ven mương, mép đường. Tên khoa học hiện được chấp nhận là Sphagneticola trilobata (đồng danh thường gặp trong tài liệu cũ: Wedelia trilobata), thuộc họ Cúc (Asteraceae). Ở nhiều quốc gia nhiệt đới, cây này còn được xếp vào nhóm thực vật xâm lấn vì khả năng lan nhanh và lấn át thảm thực vật bản địa.
Tại Việt Nam, sài đất ba thuỳ không phải là cây xa lạ trong thuốc nam. Theo kinh nghiệm dân gian, cây thường được dùng ngoài da hoặc làm thuốc rửa trong các trường hợp viêm da, mụn nhọt, lở ngứa, tổn thương da nhẹ. Những cách dùng này tồn tại ở mức kinh nghiệm, không phải chỉ định y học chính thức, nhưng lại chính là lý do khiến các nhà nghiên cứu chú ý: nhiều cây thuốc dân gian có tác dụng “lành da, chống viêm” thường chứa các hợp chất sinh học mạnh, đặc biệt là các lactone hoặc polyphenol, vốn cũng là những nhóm chất hay cho tín hiệu tốt khi sàng lọc trên tế bào ung thư.
Trong nghiên cứu ung thư máu, hai dòng tế bào được sử dụng rất phổ biến là HL-60 và K-562. HL-60 là mô hình bạch cầu tuỷ cấp (acute myeloid leukemia – AML), thường được dùng để khảo sát khả năng ức chế tăng sinh và kích hoạt chết theo chương trình (apoptosis). K-562 là mô hình bạch cầu tuỷ mạn (chronic myeloid leukemia – CML), mang gen dung hợp BCR-ABL – một bất thường di truyền đóng vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của CML. Các chất có hoạt tính rõ trên hai dòng này thường được coi là có “tín hiệu mạnh” trong ung thư máu ở mức tiền lâm sàng.
Những số liệu IC50 rất thấp của sài đất ba thuỳ trên HL-60 và K-562 không phải là suy đoán, mà xuất phát từ một công trình học thuật cụ thể. Năm 2002, tại The Chinese University of Hong Kong, nghiên cứu sinh Yip Nga-Lam đã bảo vệ luận văn thạc sĩ với tiêu đề “Antitumor activities of extracts and fractions from Wedelia trilobata”. Trong luận văn này, tác giả tiến hành chiết xuất, phân đoạn và phân lập các hợp chất từ Wedelia trilobata, sau đó thử nghiệm hoạt tính chống ung thư trên nhiều dòng tế bào.
Theo các dữ liệu được trích dẫn lại trong các công bố sau này, một hợp chất thuộc nhóm sesquiterpene lactone phân lập từ cây cho thấy hoạt tính đáng chú ý: IC50 trên dòng HL-60 khoảng 4 microgam / ml, trên dòng K-562 khoảng 6,5 microgam / ml. Trên một số dòng ung thư mô đặc như SI80 (dạ dày), HepG2 (gan) và MCF-7 (vú), IC50 cao hơn, dao động từ khoảng 8 đến 36 microgam/ ml. Mô hình đáp ứng này cho thấy tế bào ung thư máu nhạy hơn rõ rệt so với các dòng mô đặc, một đặc điểm thường gặp khi thử nghiệm các hợp chất gây apoptosis.
Gần hai thập kỷ sau, dữ liệu từ luận văn này được đặt lại trong bối cảnh khoa học hiện đại thông qua một bài báo có phản biện, công bố năm 2021 trên tạp chí Plants (Basel) của nhóm tác giả Hoang Thanh Chi và cộng sự. Bài báo có mã toàn văn mở PMC8156756, với tiêu đề nghiên cứu về tác dụng của chiết xuất methanol từ Sphagneticola trilobata trên các tế bào bạch cầu mang BCR-ABL.
Trong nghiên cứu năm 2021, nhóm tác giả sử dụng chiết xuất methanol toàn phần từ phần trên mặt đất của cây thu hái tại Việt Nam. Chiết xuất này được thử nghiệm trên dòng K-562 và trên các mô hình tế bào CML mang đột biến BCR-ABL kháng thuốc, bao gồm cả đột biến T315I – một đột biến nổi tiếng gây kháng với nhiều thuốc ức chế tyrosine kinase. Kết quả cho thấy chiết xuất methanol ức chế tăng sinh tế bào theo thời gian (24 đến 72 giờ), đồng thời kích hoạt quá trình chết theo chương trình, được chứng minh bằng sự hoạt hoá caspase-3 và cắt PARP. Các phân tích tín hiệu cho thấy chiết xuất có ảnh hưởng làm giảm hoạt tính của trục BCR-ABL và các đường truyền tín hiệu liên quan như AKT và MAPK.
Như vậy, dữ liệu từ năm 2002 và dữ liệu năm 2021 không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau: luận văn tại Hồng Kông cung cấp các giá trị IC50 thấp trên HL-60 và K-562 với hợp chất phân lập, còn bài báo năm 2021 xác nhận rằng chiết xuất methanol toàn phần của cây cũng có khả năng ức chế mạnh các tế bào leukemia, kể cả các mô hình mang đột biến kháng thuốc, và có cơ chế sinh học hợp lý.
Về mặt hoá học, Sphagneticola/Wedelia trilobata đã được xác định là chứa nhiều sesquiterpene lactone kiểu eudesmanolide. Một hợp chất tiêu biểu là trilobolide-6-O-isobutyrate, đã được phân lập từ hoa của cây và xác định cấu trúc bằng tinh thể học tia X trong các công bố hoá học. Các nghiên cứu sắc ký sau đó còn xây dựng phương pháp định lượng các đồng phân trilobolide-6-O-isobutyrate, cho thấy nhóm chất này là marker hoá học đặc trưng của loài. Tuy nhiên, trong các bài báo sinh học hiện có, đặc biệt là bài PMC8156756, các tác giả chỉ khẳng định vai trò của nhóm sesquiterpene lactone nói chung, chứ không khẳng định dứt khoát hợp chất gây tác dụng sinh học chính xác là trilobolide-6-O-isobutyrate nào. Việc giữ cách diễn đạt này là cần thiết để tránh suy diễn vượt quá bằng chứng.
Về độc tính và độ an toàn, một số nghiên cứu trên động vật cho thấy cao ethanol của lá sài đất ba thuỳ khi dùng kéo dài trên chuột không gây độc tính mạn rõ rệt ở các liều khảo sát, và độc tính cấp ở mức tương đối cao. Tuy nhiên, do cây chứa sesquiterpene lactone – nhóm chất có hoạt tính sinh học mạnh – và do chưa có dữ liệu lâm sàng trên người, sài đất ba thuỳ không thể được coi là rau ăn hay dược liệu dùng tuỳ tiện. Các dữ liệu hiện có chỉ cho phép nhìn nhận cây này như một đối tượng nghiên cứu dược học, không phải một phương tiện điều trị.
Từ một loài cỏ dại ven ruộng, sài đất ba thuỳ đã đi vào phòng thí nghiệm ung thư máu với những con số IC50 đủ thấp để thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu. Những dữ liệu này, khi được đặt đúng vị trí – với nguồn gốc rõ ràng từ luận văn học thuật năm 2002 và bài báo phản biện năm 2021 – cho thấy đây là một ví dụ điển hình về việc tri thức dân gian, khi được soi chiếu bằng phương pháp khoa học, có thể mở ra những hướng nghiên cứu nghiêm túc trong y sinh học hiện đại.
Thật may mắn, Viện y học bản địa Việt Nam có 17 sào ruộng, hiện nay cây này tự mọc bờ rất nhiều, chúng tôi đã và đang nghiên cứu trên động vật và tiến tới đi xa hơn nếu điều kiện thuận và lợi.
BS. Hoàng Sầm
Viện Y học bản địa Việt Nam








