
Chạ đào, người Tày còn gọi Tào phia, Tào đông, được xác định thuộc loài Prunus zippeliana. Đây là cây thuốc mà chúng tôi đã biết, đã dùng theo kinh nghiệm của các cố bác sĩ Quyến, Bác sĩ Chinh … Bệnh Viện Đông y Tỉnh Bắc kạn (cũ) trong thực hành điều trị viêm đa khớp từ khoảng 30 năm trước. Kinh nghiệm thực tế cho thấy cây có tác dụng đáng chú ý đối với đau và viêm đa khớp dạng thấp. Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi quan tâm hiện nay là một câu hỏi khác: liệu Chạ đào có tiềm năng nghiên cứu theo hướng ung thư hay không?
Chúng tôi chưa có cơ sở để nói Chạ đào chữa được ung thư. Nhưng những thành phần hóa học các nhà khoa học Đại học Y-Dược Thái Nguyên và Nhật bản đã xác định được trong cây cho thấy câu hỏi này hoàn toàn đáng được nghiên cứu.
Các nghiên cứu hóa thực vật đã phát hiện trong Prunus zippeliana nhiều hợp chất như ursolic acid, oleanolic acid, corosolic acid hay 2α-hydroxyursolic acid, tormentic acid, β-sitosterol, stigmasterol, phytol và các flavonoid của kaempferol. Điểm đáng chú ý là nhiều chất trong số này đã được nghiên cứu độc lập trên các mô hình ung thư và không chỉ đơn thuần gây độc tế bào. Chúng có khả năng tác động lên những hệ thống tín hiệu quan trọng giúp tế bào ung thư tồn tại, tăng sinh, xâm lấn và kháng điều trị.

Một trong những trục nổi bật là PI3K–AKT–mTOR. Đây có thể hình dung như một hệ thống “nuôi sống” tế bào ung thư. Khi trục này hoạt động quá mạnh, tế bào tăng sinh nhanh hơn, chống lại quá trình tự chết và thích nghi tốt hơn với môi trường bất lợi. Ursolic acid, oleanolic acid, corosolic acid và một số phytosterol có trong Chạ đào đều đã có dữ liệu cho thấy khả năng tác động lên mạng tín hiệu này.
Một mạng quan trọng khác là NF-κB và STAT3. Hai hệ thống này vừa liên quan viêm, vừa giúp ung thư chống apoptosis, tăng tạo mạch, xâm lấn và tạo môi trường miễn dịch thuận lợi cho khối u. Đây cũng là điểm khá thú vị đối với một cây vốn đã được sử dụng trong bệnh viêm đa khớp. Một chất có khả năng điều biến phản ứng viêm bệnh lý đôi khi cũng có thể tác động lên chính những tín hiệu mà tế bào ung thư lợi dụng để phát triển.
Các chất của Chạ đào còn liên quan đến MAPK/ERK và Wnt/β-catenin, những đường truyền có vai trò lớn trong tăng sinh, di căn và duy trì tế bào gốc ung thư.
Từ dữ liệu hiện có, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến một số loại ung thư.
Ung thư vú, nhất là ung thư vú tam âm, là một hướng đáng nghiên cứu. Ursolic acid đã có bằng chứng làm giảm một số đặc tính của tế bào gốc ung thư vú như khả năng tạo khối cầu, giảm các marker OCT4, SOX2, CD44 và c-Myc. Stigmasterol cũng đã được nghiên cứu trên tế bào gốc ung thư vú tam âm thông qua trục JAK3.
Ung thư gan cũng đáng chú ý. β-Sitosterol đã có dữ liệu cho thấy khả năng làm giảm FOXM1 và Wnt/β-catenin, từ đó giảm tăng sinh, EMT và các protein MMP liên quan xâm lấn.
Ung thư đại trực tràng nổi bật ở corosolic acid. Chất này đã được nghiên cứu với khả năng cản sự tương tác của HER2/HER3, từ đó làm yếu các tín hiệu tăng trưởng nằm phía dưới như PI3K/AKT.
Ung thư tụy có dữ liệu đáng quan tâm đối với tormentic acid. Một số nghiên cứu cho thấy chất này có thể gây apoptosis, làm dừng chu kỳ tế bào và giảm khả năng di chuyển của tế bào ung thư tụy.
Riêng ung thư biểu mô vảy vùng đầu–cổ và thực quản, chúng tôi thấy có sự hội tụ đặc biệt đáng chú ý. Corosolic acid đã được nghiên cứu trực tiếp trên ung thư biểu mô vảy miệng, làm giảm ERK1/2, giảm MMP1 và giảm khả năng xâm lấn. Oleanolic acid có dữ liệu liên quan đến EMT, tế bào gốc ung thư và kháng cisplatin. Ursolic acid cũng đã được nghiên cứu trên ung thư biểu mô vảy thực quản với tác động lên AKT/mTOR, FOXM1, MMP và khả năng xâm lấn.
Điều quan trọng là những tác dụng này không phải lúc nào cũng đòi hỏi phải “giết chết thật nhiều tế bào”.
Trong ung thư, đôi khi một chất có giá trị vì nó làm tế bào bớt hung hãn: giảm khả năng di chuyển, giảm xâm lấn, giảm tạo mạch, giảm kháng thuốc hoặc làm suy yếu quần thể tế bào gốc ung thư.
Tế bào gốc ung thư, thường gọi là CSC – Cancer Stem Cells, là một quần thể nhỏ nhưng rất đáng quan tâm. Chúng có khả năng tự tái tạo, chịu đựng hóa trị tốt hơn, góp phần vào tái phát và di căn. Một số chất đã biết trong Chạ đào như ursolic acid, corosolic acid, oleanolic acid, stigmasterol và phytol đều đã có những dữ liệu ít nhiều liên quan đến việc làm giảm stemness, khả năng tạo sphere hoặc các marker như CD44, CD133, OCT4, SOX2, NANOG.
Vì vậy, nếu nghiên cứu Chạ đào, chúng tôi cho rằng không nên chỉ hỏi: “Cao này giết được bao nhiêu phần trăm tế bào ung thư?”
Mà phải hỏi thêm: Ở nồng độ chưa gây độc mạnh, nó có làm giảm AKT, STAT3, NF-κB, β-catenin không? Có giảm MMP và khả năng xâm lấn không? Có làm giảm CSC và khả năng tạo khối u mới không?
Đó mới là cách đánh giá đầy đủ một cây thuốc có nhiều thành phần cùng tác động lên nhiều đường truyền sinh học. Tất nhiên, khoảng cách từ các hoạt chất riêng lẻ đến một thuốc chống ung thư còn rất xa. Chúng ta vẫn cần xác định hàm lượng thực tế của các chất trong rễ Chạ đào, so sánh nước sắc với cao rượu, đo IC₅₀, chỉ số chọn lọc SI, đánh giá độc tính và đặc biệt phải chứng minh rằng chính cao Chạ đào, chứ không chỉ từng chất tinh khiết, tạo được những hiệu ứng nói trên.
Viện Y học Bản địa Việt Nam đã sử dụng cây Chạ đào trong hướng điều trị viêm đa khớp khoảng ba thập kỷ. Từ những dữ liệu hóa học và sinh học hiện nay, chúng tôi bắt đầu mở rộng nghiên cứu sang hướng ung thư.
Chúng tôi chưa kết luận Chạ đào chữa được ung thư. Nhưng những gì đã biết cho thấy đây là một cây thuốc đủ cơ sở để được nghiên cứu nghiêm túc về chống tăng sinh, chống di căn, điều biến các đường truyền tín hiệu và làm giảm đặc tính của tế bào gốc ung thư.
Bác sĩ Hoàng Sầm
Viện Y học Bản địa Việt Nam








