SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÁI NGUYÊN Viện nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ sản xuất thuốc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe

HOTLINE: 1800 8187
  • Login
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
No Result
View All Result
Home Cây thuốc

Hiệu quả thuốc phụ thuộc ứng xử sau thu hái

BS. Hoàng Sầm by BS. Hoàng Sầm
15/12/2025
Hiệu quả thuốc phụ thuộc ứng xử sau thu hái

Cây Bòn bọt và cây Ngũ trảo đều dùng hỗ trợ điều trị ung thư buồng trứng, nhưng vì sao hiệu quả giữa các thầy thuốc lại rất khác nhau?

Trong thực hành y học cổ truyền và y học bản địa, cây bòn bọt và cây ngũ trảo được một số thầy thuốc sử dụng để hỗ trợ các bệnh lý u nang, u buồng trứng, thậm chí ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, cùng một tên cây thuốc, hiệu quả ghi nhận giữa các thầy thuốc lại rất khác nhau: có nơi thấy đáp ứng rõ, có nơi gần như không nhận thấy tác dụng. Thực tế này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: vì sao cùng một vị thuốc, kết quả lại chênh lệch đến vậy?

Một nguyên nhân quan trọng thường bị bỏ qua nằm ở quá trình xử lý dược liệu ngay sau thu hái. Khi cây bị cắt khỏi cơ thể sống, mô thực vật mất tính toàn vẹn, tạo điều kiện cho hệ enzyme nội sinh tiếp tục hoạt động. Các enzyme oxy hoá như polyphenol oxidase và peroxidase có thể nhanh chóng oxy hoá các hợp chất polyphenol và flavonoid. Đồng thời, các enzyme thuỷ phân như β-glucosidase làm biến đổi cấu trúc của nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Nếu không được kiểm soát, quá trình này có thể làm suy giảm hoặc phá huỷ đáng kể hoạt chất, chỉ trong vài giờ đầu sau thu hái.

Ví dụ 1: Cây bòn bọt

Với cây bòn bọt (thuộc chi Glochidion), phần lá và cành non được cho là chứa nhiều hợp chất phenolic và flavonoid – nhóm chất được quan tâm trong hỗ trợ điều trị ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, đây cũng là những hợp chất rất nhạy cảm với enzyme oxy hoá.

Những thầy thuốc thu được hiệu quả tốt thường có điểm chung là xử lý dược liệu rất sớm và rất gọn: hái khi khô ráo, tránh dập nát, làm khô nhanh hoặc ngâm cồn sớm. Nhiệt độ vừa phải hoặc dung môi cồn giúp bất hoạt hoặc phá huỷ enzyme nội sinh, thông qua cơ chế biến tính protein enzyme, từ đó bảo tồn được các hoạt chất mong muốn.

Trong chiết xuất, việc sử dụng ethanol 70–80%, sau đó tách thành các phần khác nhau theo độ tan của hoạt chất, cho phép thu được phần giàu flavonoid (ví dụ phần tan tốt trong ethyl acetate). Phần này thường cho thấy hoạt tính sinh học rõ rệt hơn so với cao nước hoặc cao thô chưa được chọn lọc.
Xử lý sau thu hái và chiết đúng hoặc chưa đúng có thể khiến IC50 giao động trong khoảng rộng từ 5,5 đến 36 microgam/mol.

Ví dụ 2: Cây ngũ trảo

Cây ngũ trảo (Vitex negundo L.) cũng được ghi nhận có tác dụng ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư buồng trứng trong một số mô hình thực nghiệm. Tuy nhiên, hiệu lực của cao chiết phụ thuộc rất lớn vào cách xử lý sau thu hoạch. Nếu dược liệu bị để ẩm lâu, phơi chậm hoặc bị dập nát, enzyme nội sinh sẽ tiếp tục hoạt động và làm giảm đáng kể hàm lượng flavonoid và lignan có hoạt tính.

Kinh nghiệm thực hành cho thấy cần làm khô nhanh dược liệu, hạn chế tối đa quá trình oxy hoá, và ưu tiên chiết bằng ethanol nồng độ cao (80–90%). Sau đó, việc tách thành các phần khác nhau theo độ tan của hoạt chất giúp tập trung nhóm hợp chất có tác dụng sinh học, tạo nên sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả so với các cách sắc hoặc ngâm truyền thống không chọn lọc.

Kết luận

Sự khác nhau về hiệu quả giữa các thầy thuốc khi sử dụng cùng một cây thuốc không phải do may rủi, cũng không phải do “bí quyết huyền bí”, mà chủ yếu nằm ở cách xử lý dược liệu ngay sau thu hái, cụ thể là việc bất hoạt hoặc phá huỷ enzyme nội sinh, cùng với lựa chọn dung môi và cách tách phù hợp để bảo tồn và tập trung hoạt chất.

Khác biệt giữa các thầy thuốc không nằm ở việc dùng cây gì, mà nằm ở chỗ hiểu và kiểm soát được điều gì xảy ra với cây thuốc trong những giờ đầu sau thu hái.

Số lượt xem: 693
0
SHARES
FacebookTwitterSubscribe

Bài viết liên quan

Nhân 1 trường hợp suy tim giai đoạn III – IV, phân tích bài thuốc y dược cổ truyền

Nhân 1 trường hợp suy tim giai đoạn III – IV, phân tích bài thuốc y dược cổ truyền

15/08/2026
Berberin và Metformin từ cây thuốc đến chuyển hóa với tế bào gốc ung thư

Berberin và Metformin từ cây thuốc đến chuyển hóa với tế bào gốc ung thư

12/08/2026
Tiêu chỏm xương đùi hoại tử vô khuẩn: tổn thương mạch máu – tự miễn – di truyền và bài toán tái tạo xương

Tiêu chỏm xương đùi hoại tử vô khuẩn: tổn thương mạch máu – tự miễn – di truyền và bài toán tái tạo xương

04/08/2026
Nguy cơ ung thư tái phát sau điều trị vẫn đe dọa – nếu chúng ta chưa chạm tới được hệ điều hành tín hiệu sinh học của tế bào ung thư

Nguy cơ ung thư tái phát sau điều trị vẫn đe dọa – nếu chúng ta chưa chạm tới được hệ điều hành tín hiệu sinh học của tế bào ung thư

04/08/2026
Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

11/07/2026
Luận thuyết về cân bằng động và can thiệp bằng thảo dược: Di căn ung thư từ góc nhìn hybrid/EMT

Luận thuyết về cân bằng động và can thiệp bằng thảo dược: Di căn ung thư từ góc nhìn hybrid/EMT

01/07/2026
Giải Mã TME: “Mở cổng, mở cửa nơi thành hào sâu” để thuốc tiến vào khối u

Giải Mã TME: “Mở cổng, mở cửa nơi thành hào sâu” để thuốc tiến vào khối u

30/06/2026
Phòng ung thư sớm từ xa: Nhìn từ gene, chuyển hóa, viêm mạn và ty thể

Phòng ung thư sớm từ xa: Nhìn từ gene, chuyển hóa, viêm mạn và ty thể

23/06/2026

Lăng kính y tế tư nhân: Y học hiện đại và y dược học cổ truyền – cuộc đua giữa “Nhà máy công nghệ” và “Di sản trường tồn”

21/05/2026
Hệ thống phân loại hạch trong ngoại khoa và ung bướu học

Hệ thống phân loại hạch trong ngoại khoa và ung bướu học

12/05/2026
  • Hoạt động Viện
  • Tâm thần kinh
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
HOTLINE: 1800 8187

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam