SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÁI NGUYÊN Viện nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ sản xuất thuốc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe

HOTLINE: 1800 8187
  • Login
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
No Result
View All Result
Home Hoạt động Viện Nghiên cứu

Nhị Hoàng Xuyên Hương: Điều biến miễn dịch từ Nấm hương, Hoàng kỳ, Hoàng cầm và Xuyên tâm liên với sức khỏe người ung thư

BS. Hoàng Sầm by BS. Hoàng Sầm
06/09/2026
Nhị Hoàng Xuyên Hương: Điều biến miễn dịch từ Nấm hương, Hoàng kỳ, Hoàng cầm và Xuyên tâm liên với sức khỏe người ung thư

Khi nói đến người bệnh ung thư, chúng ta thường nghe cụm từ “tăng sức đề kháng”. Nhưng không phải vậy, mà là có loại cần tăng và có loại cần giảm miễn dịch trong ung thư. Không đơn giản là càng miễn dịch mạnh càng tốt. Có những lực lượng cần tăng để nhận biết và tiêu diệt tế bào bất thường; ngược lại, cũng có những phản ứng viêm và những tế bào ức chế miễn dịch cần giảm xuống. Vì vậy, khái niệm phù hợp hơn là điều biến miễn dịch: tăng đúng cái cần tăng, giảm đúng cái cần giảm. Đơn cử người ta có thể dùng đồng thời Hoàng kỳ để tăng miễn dịch và lôi công đằng là vị thuốc có độc nhưng giảm miễn dịch rất mạnh trong điều trị ung thư. Vậy tại sao lại ngược nhau như thế, lý lẽ, cơ chế thế nào?

1. Miễn dịch chống ung thư hoạt động như thế nào?

Cơ thể có nhiều tầng bảo vệ chống lại tế bào bất thường. Trước hết là tế bào tua (DC). Có thể coi đây là những “trinh sát viên” của hệ miễn dịch. Chúng thu nhận dấu hiệu của tế bào ung thư, xử lý rồi trình cho tế bào T nhận biết để tiêu diệt. Khi tế bào tua trưởng thành, các tín hiệu như CD80, CD86 tăng lên, giúp hệ miễn dịch xác nhận rõ hơn đâu là đối tượng cần tấn công.

Sau đó là lực lượng tiêu diệt: Tế bào NK, hay tế bào diệt tự nhiên, là lực lượng phản ứng nhanh, có thể phát hiện và tiêu diệt nhiều tế bào bất thường. Tế bào T CD8 có tính đặc hiệu cao hơn. Khi đã nhận đúng dấu hiệu của tế bào ung thư, chúng có thể giải phóng perforin và granzyme để làm tế bào đó chết. Các tế bào Th1, cùng những chất truyền tin như IL-12 và IFN-γ, giúp huy động và duy trì đáp ứng chống ung thư. Những yếu tố nêu trên là nói về tăng miễn dịch thì tốt.

Nhưng khối u cũng biết tự bảo vệ bản thân. Nó tạo ra một môi trường quanh khối u (TME) có thể làm hệ miễn dịch yếu đi hoặc hoạt động sai hướng. Những tế bào như Treg và MDSC vốn có nhiệm vụ giữ miễn dịch không phản ứng thái quá, nhưng trong ung thư có thể bị lợi dụng để kìm hãm NK và T CD8. Một số đại thực bào cũng có thể chuyển sang trạng thái hỗ trợ khối u. Bên cạnh đó, tình trạng viêm kéo dài với IL-6, TGF-β, VEGF và nhiều tín hiệu khác có thể thúc đẩy tạo mạch, tăng sinh, xâm lấn và làm suy yếu miễn dịch chống u. Như vậy những yếu tố cũng là miễn dịch nhưng lại phản chủ bảo vệ khối u thì cần giảm đi mới tốt.

Do đó, điều biến miễn dịch cần làm song song hai việc:

Cần tăng: khả năng nhận diện tế bào ung thư, tế bào tua trưởng thành, NK, T CD8, Th1 và các tín hiệu chống u có lợi.

Cần giảm: viêm kéo dài, Treg và MDSC quá mức, đại thực bào hỗ trợ u và những tín hiệu giúp khối u che giấu hoặc bảo vệ chính nó.

Như vậy, tăng và giảm miễn dịch không mâu thuẫn. Một bên tăng lực lượng bảo vệ; một bên dỡ bỏ những yếu tố đang cản trở lực lượng đó.

2. Nhị Hoàng Xuyên Hương: bốn vị, hai hướng tác động

Từ nguyên tắc trên, chúng tôi đề xuất một công thức nghiên cứu học được từ một vị đồng nghiệp giáo sư Trung quốc, cấu trúc gồm 4 vị thuốc, có 2 vị tăng và 2 vị giảm miễn dịch:

Nấm hương khô

Sinh Hoàng kỳ

Xuyên tâm liên

Hoàng cầm

15g

18g

12g

12g

Tổng cộng 57 g dược liệu khô/ngày cho người trưởng thành. Công thức được tạm gọi là Nhị Hoàng Xuyên Hương: hai vị Hoàng kỳ – Hoàng cầm, cùng Xuyên tâm liên và Nấm hương. Đây là công thức định hướng nghiên cứu, chưa phải phác đồ đã được chứng minh có thể điều trị ung thư ở Việt Nam.

Nấm hương: đánh thức hệ thống nhận diện và phản ứng nhanh, Nấm hương chứa nhiều beta-glucan, trong đó lentinan được nghiên cứu nhiều nhất về miễn dịch. Lentinan không giết trực tiếp tế bào ung thư như hóa trị. Giá trị nổi bật của nó là điều chỉnh đáp ứng, đánh thức miễn dịch: hỗ trợ tế bào tua, tăng IL-12, hoạt hóa NK, tế bào T và thúc đẩy đáp ứng theo hướng Th1. Có thể hiểu đơn giản: Nấm hương giúp người trinh sát nhìn rõ hơn kẻ thù và lực lượng phản ứng nhanh chiến đấu hiệu quả hơn. Lentinan đã được nghiên cứu bổ trợ ung thư trong nhiều thập kỷ, đặc biệt tại Nhật Bản. Tuy nhiên cần phân biệt lentinan hoặc beta-glucan chuẩn hóa với việc đơn thuần ăn Nấm hương như thực phẩm.

Hoàng kỳ: vừa tăng lực lượng bộ đội chủ lực, vừa nhả bớt “phanh” kìm hãm miễn dịch. Trong Hoàng kỳ, nhóm được nghiên cứu nhiều về miễn dịch là polysaccharid Hoàng kỳ, thường gọi tắt là APS. APS có thể thúc đẩy tế bào tua trưởng thành, tăng CD80, CD86 và IL-12, qua đó hỗ trợ T CD8 và đáp ứng Th1. Đáng chú ý hơn, trong một số mô hình thực nghiệm, APS còn làm giảm Treg và MDSC – những tế bào có thể kìm hãm miễn dịch (phanh) chống khối u. Có thể hình dung: Nấm hương giúp phát động cuộc phòng vệ; Hoàng kỳ vừa hỗ trợ phát động, vừa tháo bớt những chiếc phanh đang kìm hãm hệ miễn dịch.

Hoàng cầm: giảm phần viêm, miễn dịch có lợi cho khối u, Hoàng cầm chứa các flavonoid như baicalin, baicalein và wogonin. Điều cần nhấn mạnh là Hoàng cầm không đơn giản “làm giảm miễn dịch”. Một số thành phần của nó có thể giảm những tín hiệu viêm kéo dài như IL-6 và tác động lên nhiều đường truyền tín hiệu liên quan đến tăng sinh, tồn tại và môi trường quanh khối u. Hoàng cầm còn có thể tác động lên đại thực bào. Trong một số mô hình, baicalin giúp chuyển đại thực bào từ trạng thái thiên về hỗ trợ khối u sang trạng thái thuận lợi hơn cho miễn dịch chống u và hỗ trợ hoạt động của T CD8. Do đó có thể nói: Hoàng cầm không làm yếu toàn bộ hệ miễn dịch mà thiên về giảm phần viêm và phần miễn dịch đang hoạt động lệch hướng có lợi cho khối u.

Xuyên tâm liên: giảm viêm, giảm miễn dịch nhưng vẫn hỗ trợ lực lượng chống u. Hoạt chất nổi bật của Xuyên tâm liên là andrographolide. Đây là một ví dụ khá rõ cho nguyên lý “tăng đúng – giảm đúng”. Một mặt, andrographolide có dữ liệu thực nghiệm hỗ trợ hoạt động của NK và IFN-γ. Mặt khác, nó có thể làm giảm nhiều tín hiệu liên quan đến viêm kéo dài, IL-6/STAT3, NF-κB, tạo mạch, tăng sinh và xâm lấn của khối u.

Vì vậy Xuyên tâm liên không nên được hiểu là vị thuốc đơn thuần “ức chế miễn dịch”. Nó giống một chất điều chỉnh chiến trường: giảm những phản ứng viêm bất lợi nhưng vẫn có thể bảo tồn hoặc hỗ trợ lực lượng chống u.

3. Chế thành cao chiết như thế nào?

Bốn vị có các nhóm hoạt chất khác nhau, vì vậy nếu muốn khai thác tốt thì không nên chỉ dùng một cách chiết chung. Nấm hương và Hoàng kỳ giàu polysaccharid, thích hợp với chiết nước. Có thể nghiền thô, dùng khoảng 10 phần nước cho một phần dược liệu, chiết hai lần rồi lọc và cô chân không ở nhiệt độ thấp.

Hoàng cầm và Xuyên tâm liên chứa baicalin, baicalein, wogonin và andrographolide, thích hợp hơn với cồn thực phẩm pha nước khoảng 60–70%. Sau khi chiết, thu hồi cồn rồi phối hợp với phần cao nước của Nấm hương – Hoàng kỳ, cô đặc và sấy thành cao khô.

Nếu muốn sản phẩm có tính khoa học và ổn định, nên kiểm soát ít nhất bốn nhóm thành phần: beta-glucan của Nấm hương; polysaccharid Hoàng kỳ; baicalin/baicalein của Hoàng cầm; andrographolide của Xuyên tâm liên. Đây chỉ là liều quy đổi từ dược liệu sang cao, chưa thể gọi là liều tối ưu chống ung thư. Muốn xác định liều tối ưu phải biết hàm lượng hoạt chất, khả năng hấp thu, độ an toàn và cần có nghiên cứu lâm sàng.

4. Kết luận và lưu ý

Điểm đáng chú ý của Nhị Hoàng Xuyên Hương không phải là “bốn vị cùng tăng sức đề kháng”, mà là sự phối hợp hai hướng: vừa tăng cái tốt vừa giảm cái xấu. Đó chính là bản chất của điều biến miễn dịch. Đó mới là tư duy về điều biến miễn dịch trong hỗ trợ người bệnh ung thư.

Bác sĩ Hoàng Sầm

Số lượt xem: 97
0
SHARES
FacebookTwitterSubscribe

Bài viết liên quan

Đa hồng cầu D45: Một ca đáp ứng huyết học đáng theo dõi khi phối hợp y học hiện đại và dược liệu

Đa hồng cầu D45: Một ca đáp ứng huyết học đáng theo dõi khi phối hợp y học hiện đại và dược liệu

30/08/2026
Suy mòn – hai mặt của nhịn ăn trong phòng chống ung thư

Suy mòn – hai mặt của nhịn ăn trong phòng chống ung thư

30/08/2026
Gừng trắng giảm cân, lược vàng chữa đau răng

Gừng trắng giảm cân, lược vàng chữa đau răng

22/08/2026
Nhân 1 trường hợp suy tim giai đoạn III – IV, phân tích bài thuốc y dược cổ truyền

Nhân 1 trường hợp suy tim giai đoạn III – IV, phân tích bài thuốc y dược cổ truyền

15/08/2026
Berberin và Metformin từ cây thuốc đến chuyển hóa với tế bào gốc ung thư

Berberin và Metformin từ cây thuốc đến chuyển hóa với tế bào gốc ung thư

12/08/2026
Tiêu chỏm xương đùi hoại tử vô khuẩn: tổn thương mạch máu – tự miễn – di truyền và bài toán tái tạo xương

Tiêu chỏm xương đùi hoại tử vô khuẩn: tổn thương mạch máu – tự miễn – di truyền và bài toán tái tạo xương

04/08/2026
Nguy cơ ung thư tái phát sau điều trị vẫn đe dọa – nếu chúng ta chưa chạm tới được hệ điều hành tín hiệu sinh học của tế bào ung thư

Nguy cơ ung thư tái phát sau điều trị vẫn đe dọa – nếu chúng ta chưa chạm tới được hệ điều hành tín hiệu sinh học của tế bào ung thư

04/08/2026
Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

11/07/2026
Luận thuyết về cân bằng động và can thiệp bằng thảo dược: Di căn ung thư từ góc nhìn hybrid/EMT

Luận thuyết về cân bằng động và can thiệp bằng thảo dược: Di căn ung thư từ góc nhìn hybrid/EMT

01/07/2026
Giải Mã TME: “Mở cổng, mở cửa nơi thành hào sâu” để thuốc tiến vào khối u

Giải Mã TME: “Mở cổng, mở cửa nơi thành hào sâu” để thuốc tiến vào khối u

30/06/2026
  • Hoạt động Viện
  • Tâm thần kinh
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
HOTLINE: 1800 8187

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam