SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÁI NGUYÊN Viện nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ sản xuất thuốc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe

HOTLINE: 1800 8187
  • Login
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
No Result
View All Result
Viện Y học Bản Địa Việt Nam
No Result
View All Result
Home Ung thư

Phòng ung thư sớm từ xa: Nhìn từ gene, chuyển hóa, viêm mạn và ty thể

BS. Hoàng Sầm by BS. Hoàng Sầm
23/06/2026
Phòng ung thư sớm từ xa: Nhìn từ gene, chuyển hóa, viêm mạn và ty thể

Ảnh tạo bởi Gemini Flash

Trong nhiều thập kỷ, ung thư thường được giải thích chủ yếu như một bệnh của gene: tế bào tích lũy đột biến, mất kiểm soát tăng sinh, né tránh chết theo chương trình, rồi hình thành khối u. Cách hiểu này đúng, nhưng chưa đủ. Ung thư hiện đại cần được nhìn như một bệnh đa tầng: gene, chuyển hóa, viêm mạn, miễn dịch, vi môi trường mô và lối sống cùng tham gia.

Một trong những chìa khóa quan trọng để hiểu ung thư là hiện tượng Warburg. Từ những năm 1920, Otto Warburg quan sát thấy nhiều tế bào ung thư tiêu thụ glucose rất mạnh và chuyển glucose thành lactate ngay cả khi vẫn có oxy. Bình thường, tế bào khỏe mạnh có thể dùng oxy trong ti thể để tạo năng lượng hiệu quả. Nhưng nhiều tế bào ung thư lại ưu tiên đường phân nhanh, tạo lactate, dù con đường này tạo ít năng lượng hơn trên mỗi phân tử glucose.

Điều đáng chú ý là tế bào ung thư không chọn con đường này chỉ để tạo ATP. Chúng cần nguyên liệu để nhân đôi: nucleotide để tạo DNA/RNA, amino acid để tạo protein, lipid để tạo màng tế bào, và các chất khử để chống stress oxy hóa. Vì vậy, chuyển hóa kiểu Warburg giúp tế bào ung thư vừa lấy năng lượng nhanh, vừa lấy vật liệu xây dựng cơ thể mới cho quá trình tăng sinh.

Lactate cũng không chỉ là chất thải. Khi khối u tạo nhiều lactate, môi trường quanh khối u có xu hướng acid hóa. Môi trường này có thể làm mô lân cận dễ bị phá vỡ hơn, hỗ trợ xâm lấn, đồng thời làm suy yếu một số hoạt động miễn dịch chống u. Nói cách khác, chuyển hóa của ung thư không chỉ diễn ra bên trong tế bào ung thư, mà còn làm biến đổi cả vùng đất sống quanh khối u.

Từ đây, có thể hiểu vì sao đường huyết, insulin, béo phì và đề kháng insulin được quan tâm trong ung thư học hiện đại. Không nên nói đơn giản rằng “ăn đường là nuôi ung thư” hay “cắt đường là làm ung thư chết đói”. Cơ thể người luôn cần glucose, và nhiều tế bào bình thường cũng dùng glucose. Tuy nhiên, nếu đường huyết, insulin, IGF-1 và tình trạng viêm mạn kéo dài, cơ thể sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho tăng sinh tế bào, rối loạn miễn dịch và tích lũy tổn thương sinh học.

Trục insulin–IGF-1–PI3K–AKT–mTOR là một trong các trục tín hiệu quan trọng. Khi năng lượng dư thừa, insulin cao, viêm mạn và béo bụng kéo dài, mTOR có xu hướng được kích hoạt nhiều hơn. mTOR là tín hiệu thúc đẩy tổng hợp protein, tăng trưởng và phân bào. Ở mức sinh lý, đó là cơ chế cần thiết cho sống còn và tái tạo. Nhưng trong bối cảnh tế bào đã có tổn thương gene hoặc mô đang viêm mạn, tín hiệu tăng trưởng quá mạnh có thể trở thành yếu tố thúc đẩy bất lợi.

Viêm mạn là một mắt xích quan trọng khác. Khi mô bị viêm kéo dài, các tế bào miễn dịch liên tục phóng thích cytokine, gốc oxy hóa, gốc nitơ, prostaglandin và yếu tố tăng trưởng. Những chất này có thể gây tổn thương DNA, làm mô phải tái tạo liên tục, đồng thời tạo điều kiện để những tế bào lỗi sống sót. Nếu viêm cấp là phản ứng chữa lành, thì viêm mạn là một trạng thái sửa chữa không kết thúc. Chính trạng thái này làm tăng nguy cơ sinh ung ở nhiều cơ quan.

Ty thể nằm ở trung tâm của câu chuyện. Ty thể không chỉ là “nhà máy năng lượng” tạo ATP. Nó còn tham gia điều hòa chết tế bào theo chương trình, kiểm soát gốc tự do, chuyển hóa trung gian, tín hiệu miễn dịch và cân bằng oxy hóa–khử. Khi ty thể bị tổn thương mạn tính, tế bào dễ rơi vào trạng thái stress oxy hóa, giảm khả năng tự loại bỏ, lệch chuyển hóa và tăng tín hiệu viêm. Vì vậy, rối loạn ty thể có thể coi là một nền sinh học quan trọng trong quá trình sinh ung.

Tuy nhiên, cần tránh cực đoan. Không phải mọi ung thư đều bắt đầu từ ty thể hỏng. Có ung thư khởi phát mạnh từ đột biến gene, virus sinh ung, tia cực tím, thuốc lá, phóng xạ, độc chất, hoặc hội chứng di truyền. Trong các trường hợp đó, viêm mạn và ty thể có thể đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy, khuếch đại hoặc tạo môi trường chọn lọc. Cách nói chặt chẽ hơn là: viêm mạn và rối loạn ty thể là “đất xấu” giúp hạt đột biến dễ nảy mầm, chứ không phải toàn bộ cái cây ung thư.

Tương tự, chế độ ketogenic, nhịn ăn gián đoạn hoặc giảm carbohydrate đang được nghiên cứu như các chiến lược tác động chuyển hóa. Về lý thuyết, giảm glucose, giảm insulin và tăng ketone có thể gây bất lợi cho một số tế bào ung thư lệ thuộc đường phân. Nhưng trên lâm sàng, không thể coi đây là phương pháp điều trị thay thế phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, miễn dịch trị liệu hay điều trị đích. Một số khối u có tính mềm dẻo chuyển hóa rất cao, có thể dùng glutamine, acid béo, lactate hoặc thậm chí thích nghi với ketone trong những điều kiện nhất định. Vì vậy, mọi can thiệp ăn uống ở bệnh nhân ung thư cần được cá thể hóa, tránh gây suy kiệt, thiếu đạm, thiếu vi chất hoặc làm gián đoạn điều trị chuẩn.

Với y học cổ truyền và hóa thực vật, điểm đáng khai thác không phải là tuyên bố “thảo dược chữa ung thư”, mà là nghiên cứu các hợp chất tự nhiên trên các trục sinh học cụ thể: giảm viêm, điều hòa AMPK–mTOR, giảm stress oxy hóa quá mức, hỗ trợ chuyển hóa glucose, bảo vệ ty thể mô lành, điều chỉnh miễn dịch và vi môi trường mô. Một số hoạt chất như berberin, quercetin, apigenin, curcumin, saponin, polyphenol đã được nghiên cứu ở mức tế bào, động vật hoặc một số thử nghiệm nhỏ. Nhưng từ cơ chế phòng thí nghiệm đến hiệu quả điều trị trên người là một khoảng cách rất lớn. Vì vậy, hướng đúng là nghiên cứu nghiêm túc, chuẩn hóa dược liệu, kiểm soát liều, đánh giá độc tính, tương tác thuốc và thử nghiệm lâm sàng.

Điều người trẻ cần rút ra không phải là sợ ung thư, mà là hiểu rằng nền sinh ung có thể tích lũy từ sớm. Ung thư không xuất hiện chỉ vì một bữa ăn nhiều đường hay vài đêm thức khuya. Nhưng nếu nhiều năm liền cơ thể sống trong tình trạng béo bụng, đề kháng insulin, thiếu ngủ, ít vận động, ăn thực phẩm siêu chế biến, viêm mạn, hút thuốc, rượu, nhiễm trùng sinh ung và stress kéo dài, thì nguy cơ sinh học sẽ tăng lên.

Phòng ung thư vì vậy không nên bắt đầu từ nỗi sợ, mà từ quản trị nền sống. Giữ vòng bụng hợp lý. Ăn thực phẩm sạch, tự chế biến hơn là ăn thực phẩm công nghiệp. Giảm nước ngọt, rượu, thuốc lá, đồ ăn siêu chế biến và thịt chế biến. Tăng rau, chất xơ, đạm đủ, vận động đều, tập sức bền, ngủ đúng nhịp. Kiểm soát viêm dạ dày do H. pylori, viêm gan B/C, bệnh ruột mạn. Tiêm vaccine HPV và viêm gan B khi phù hợp. Tầm soát sớm hơn nếu có tiền sử gia đình hoặc triệu chứng bất thường kéo dài.

Tóm lại, ung thư không chỉ là bệnh của gene, cũng không chỉ là bệnh của đường tinh. Ung thư là kết quả hội tụ giữa đột biến, chuyển hóa, viêm mạn, rối loạn ty thể, miễn dịch và môi trường sống. Hiểu đúng trục chuyển hóa giúp chúng ta không cực đoan, không đơn giản hóa, nhưng cũng không bỏ lỡ một sự thật quan trọng: lối sống hằng ngày có thể làm nền sinh học của cơ thể trở nên thuận lợi hơn hoặc bất lợi hơn cho ung thư.

Thông điệp cuối cùng là: đừng đợi đến khi có bệnh mới nói chuyện chuyển hóa. Phòng ung thư bắt đầu từ việc giảm viêm mạn, bảo vệ ty thể, giữ đường huyết–insulin ổn định, vận động đều, ngủ tốt, tránh độc chất và tầm soát đúng thời điểm.

BS Hoàng Sầm

Số lượt xem: 106
0
SHARES
FacebookTwitterSubscribe

Bài viết liên quan

Hệ thống phân loại hạch trong ngoại khoa và ung bướu học

Hệ thống phân loại hạch trong ngoại khoa và ung bướu học

12/05/2026
TỔNG QUAN HOẠT CHẤT SINH HỌC CÂY XÁO TAM PHÂN

TỔNG QUAN HOẠT CHẤT SINH HỌC CÂY XÁO TAM PHÂN

12/05/2026
Nghịch lý PSA: Có thể chỉ số tăng vọt lại là tín hiệu đáng mừng – kinh nghiệm từ thực tiễn điều trị ung thư tiền liệt tuyến ?

Nghịch lý PSA: Có thể chỉ số tăng vọt lại là tín hiệu đáng mừng – kinh nghiệm từ thực tiễn điều trị ung thư tiền liệt tuyến ?

12/05/2026
Phác đồ Ngũ hành sinh hóa hỗ trợ điều trị ung thư – hóa trị đa đích từ hợp chất thiên nhiên

Phác đồ Ngũ hành sinh hóa hỗ trợ điều trị ung thư – hóa trị đa đích từ hợp chất thiên nhiên

12/05/2026
Beta – Glucan chiết tại bếp gia đình từ nấm hương, hỗ trợ thức tỉnh tế bào miễn dịch NK giết tế bào ung thư

Beta – Glucan chiết tại bếp gia đình từ nấm hương, hỗ trợ thức tỉnh tế bào miễn dịch NK giết tế bào ung thư

12/05/2026
Nhiệm vụ chính của bác sĩ là ngăn ngừa tái phát sau điều trị ung thư.

Nhiệm vụ chính của bác sĩ là ngăn ngừa tái phát sau điều trị ung thư.

12/05/2026
Nên phối hợp Đông – Tây y thế nào trong điều trị ung thư

Nên phối hợp Đông – Tây y thế nào trong điều trị ung thư

12/05/2026
Vì sao 2–3 năm đầu sau điều trị ung thư là giai đoạn cần theo dõi sát?

Vì sao 2–3 năm đầu sau điều trị ung thư là giai đoạn cần theo dõi sát?

12/05/2026
Ổ vi di căn trong ung thư là gì?

Ổ vi di căn trong ung thư là gì?

12/05/2026

Ngăn chặn di căn ung thư từ góc nhìn Hybrid/EMT: Luận thuyết về cân bằng động và hướng can thiệp bằng thảo dược

12/05/2026
  • Hoạt động Viện
  • Tâm thần kinh
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles
HOTLINE: 1800 8187

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In
No Result
View All Result
  • Hoạt động Viện
    • Đào tạo toạ đàm
    • Nghiên cứu
    • Sưu tầm thừa kế
  • Tâm thần kinh
    • Động kinh
    • Mất ngủ
    • Tai biến, Đột quỵ não
    • Parkinson
  • Nghiên cứu
  • Ung thư
  • Tiết niệu
  • Tim mạch
  • Sinh dục
  • Thực nghiệm
  • Giới Thiệu
    • Du Lịch Tả Phìn Hồ
    • Chuỗi Phòng Khám
    • Hội Đồng Viện
    • Hồ Sơ Năng Lực
    • VPĐD & Chi Nhánh
  • Tóm Tắt Nghiên Cứu
  • Bệnh tự miễn
  • English Articles

© Copyright 2015 Vietnam Indigenous Medical Institute. All rights reserved. 2024 Viện Y Học Bản Địa Việt Nam Trang thông tin nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện Y học bản địa Việt Nam & Công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam