Bác sĩ Hoàng Sầm – Phòng khám Y học bản địa Việt Nam
Tháng 9 năm 2025, Phòng khám Y học bản địa Việt Nam tiếp nhận một bệnh nhân nam, 67 tuổi, ở tỉnh Lạng Sơn, được chẩn đoán ung thư bàng quang đã di căn xương.
Bệnh nhân đã được phẫu thuật bàng quang và đặt ống thông niệu quản JJ để duy trì đường lưu thông nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Khi đến phòng khám, bệnh nhân bơ phờ, thờ ơ, ít quan tâm đến xung quanh; thể trạng suy mòn nhưng chưa suy kiệt, cân nặng khoảng 46 kg.
Sau khi khám và xem xét hồ sơ, chúng tôi xây dựng một phác đồ phối hợp gồm:
- Nhóm thuốc tác động lên một số dòng tế bào ung thư biểu mô bàng quang và niệu quản.
- Nhóm điều chỉnh, ngăn chặn, làm suy yếu những đường truyền tín hiệu giúp tế bào ung thư tăng sinh và tồn tại.
- Nhóm hạn chế xâm lấn, di căn và quá trình chuyển dạng biểu mô – trung mô, gọi tắt là EMT.
- Curcumin phối hợp piperine và lôi công đằng dạng uống nhỏ giọt, theo hướng kiểm soát quần thể tế bào gốc ung thư.
- Quy tỳ viên nhằm hỗ trợ ăn ngủ, khí huyết, thể trạng và khả năng phòng vệ của cơ thể.
Tuy nhiên, sau khi xây dựng xong phác đồ, chúng tôi mới phát hiện nhóm thuốc chính dành cho ung thư bàng quang và niệu quản đã hết. Một lô thuốc mới cần khoảng 20–30 ngày mới có thể sản xuất xong.
Với bệnh nhân ung thư đã di căn xương, thể trạng lại đang suy mòn nhanh, một tháng chờ đợi có thể khiến bệnh tiếp tục tiến triển. Sau khi cân nhắc, tôi hướng dẫn gia đình tìm củ bảy lá một hoa tươi, còn gọi là thất diệp nhất chi hoa, dùng mỗi ngày 40 g trong phác đồ phối hợp.
Trước trường hợp này, tôi chưa từng trực tiếp sử dụng vị thuốc ấy cho bệnh nhân ung thư bàng quang. Tuy nhiên, một số tài liệu nước ngoài đã ghi nhận các saponin của cây Paris có tác dụng khá rõ trên những dòng tế bào ung thư biểu mô bàng quang.
Tôi dặn gia đình đi tìm nhưng cũng không thật sự tin rằng họ có thể tìm được số lượng đủ dùng. Thế nhưng sau đó, gia đình đã tìm được khoảng 7–8 kg củ tươi và bắt đầu sử dụng theo hướng dẫn.
Chỉ trong khoảng 15 ngày, bệnh trạng chuyển biến tương đối nhanh. Sự bơ phờ, thờ ơ giảm dần; sức khỏe tăng lên từng ngày. Ăn uống, tiểu tiện, đại tiện, giấc ngủ và sinh hoạt của bệnh nhân dần trở lại bình thường.
Thể trạng được duy trì ổn định đến mức gia đình sau đó đưa bệnh nhân đi phẫu thuật đục nhân mắt. Trong thời gian theo dõi, bệnh chưa thấy biểu hiện nặng lên nhanh như tiên lượng ban đầu. Qua đánh giá lâm sàng của tôi, tình trạng toàn thân và mức độ biểu hiện bệnh đã giảm rõ rệt.
Đây là một ca bệnh sử dụng phác đồ phối hợp nên không thể quy toàn bộ kết quả cho riêng bảy lá một hoa. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh nhóm thuốc chính chưa sản xuất kịp, bảy lá một hoa là vị thuốc được đưa vào thay thế trực tiếp. Thời điểm sử dụng vị thuốc cũng trùng với giai đoạn bệnh nhân bắt đầu chuyển biến nhanh.
Bảy lá một hoa có gì đáng chú ý?
Bảy lá một hoa thuộc chi Paris, thường được biết đến với tên Paris polyphylla. Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ, trong dân gian thường gọi là củ. Thành phần được nghiên cứu nhiều nhất là nhóm saponin steroid, gồm polyphyllin I, II, VI, VII và một số hợp chất có cấu trúc gần nhau.
Trong nghiên cứu trên hai dòng ung thư bàng quang xâm lấn cơ là T24 và 5637, polyphyllin II ức chế sức sống tế bào sau 48 giờ với IC₅₀ lần lượt là:
- 0,86 ± 0,09 µM trên tế bào T24.
- 1,72 ± 0,21 µM trên tế bào 5637.
Trong cùng điều kiện thử nghiệm, IC₅₀ của cisplatin là 11,70 ± 1,31 µM trên T24 và 20,17 ± 0,82 µM trên 5637. Các con số này không có nghĩa polyphyllin II mạnh hơn cisplatin trên người, nhưng cho thấy hoạt chất có độc tính tế bào đáng chú ý ở nồng độ micromol thấp. Polyphyllin II đồng thời làm giảm khả năng hình thành quần thể tế bào, tăng ROS, làm tích tụ sắt và lipid oxy hóa, đồng thời hạ GPX4, qua đó thúc đẩy ferroptosis – một dạng chết tế bào phụ thuộc sắt.
Một nghiên cứu khác cho thấy polyphyllin I gây dừng chu kỳ tế bào và thúc đẩy apoptosis ở tế bào ung thư bàng quang thông qua hoạt hóa FOXO3 cùng các protein BIM và NOXA. Tác dụng không chỉ được ghi nhận trong đĩa nuôi cấy mà còn được kiểm tra trên mô hình chuột mang khối u ghép xenograft, trong đó polyphyllin I làm giảm sự phát triển của khối u bàng quang.
Đối với xâm lấn và di căn, polyphyllin II đã được nghiên cứu trên các dòng T24 và 5637. Hoạt chất làm giảm khả năng di chuyển, xâm nhập, hạ N-cadherin, MMP-2, MMP-9 cùng một số yếu tố liên quan EMT, đồng thời làm tăng E-cadherin. Điều này cho thấy bảy lá một hoa không chỉ có hướng tác động vào sự tăng sinh mà còn có thể ảnh hưởng đến cơ chế giúp tế bào ung thư tách rời và lan sang mô khác.
Đáng chú ý hơn, một công trình công bố trực tuyến tháng 8 năm 2025 đã khảo sát tổng saponin của Paris polyphylla var. yunnanensis trên tế bào ung thư bàng quang, mô hình xenograft ở chuột và cá ngựa vằn, đồng thời sử dụng cả mô hình kháng cisplatin.
Kết quả cho thấy tổng saponin ức chế tăng sinh, thúc đẩy apoptosis và làm giảm tổng hợp lipid thông qua trục GRB2–Akt–SREBP1. Trong đó, polyphyllin VII được xác định là một chất ức chế GRB2 có khả năng làm tế bào ung thư bàng quang kháng thuốc nhạy trở lại với cisplatin. Nói đúng hơn, đây là bằng chứng về đảo ngược kiểu hình kháng cisplatin trong mô hình tiền lâm sàng.
Như vậy, quan sát của chúng tôi trên bệnh nhân nói trên không hoàn toàn tách rời những dữ liệu nghiên cứu hiện có. Các saponin của bảy lá một hoa đã thể hiện nhiều hướng tác động phù hợp với ung thư bàng quang: ức chế tăng sinh, gây apoptosis, thúc đẩy ferroptosis, hạn chế EMT và xâm lấn, giảm phát triển khối u xenograft, đồng thời có khả năng làm giảm kháng cisplatin.
Một ca bệnh không thể đại diện cho mọi bệnh nhân. Nhưng từ diễn biến có thật này, kết hợp với những bằng chứng thực nghiệm hiện có, bảy lá một hoa là vị thuốc rất đáng được tiếp tục nghiên cứu đối với ung thư bàng quang và ung thư biểu mô đường niệu.










