Năm 1994, trong chuyến điền dã tìm kiếm tri thức y học dân gian vùng núi phía Bắc cùng cố PGS.TS Phan Văn Kác và thầy Hoàng Quỳnh, bác sĩ Hoàng Sầm bất ngờ phát cơn viêm amidan cấp sau khi uống rượu và nước lạnh. Cổ họng rát bỏng, nuốt khó, người ngây ngấy sốt. Thấy vậy, người cha – vốn xuất thân từ gia đình nhiều đời làm thuốc Nam – liền hái vội 5 chiếc lá rừng đưa cho ông: “Nhai kỹ, nuốt nước từ từ, bã nuốt luôn cũng được.”
Điều kỳ lạ không nằm ở việc bệnh khỏi sau một ngày, mà chỉ sau 5–7 phút: cơn đau buốt khi nuốt dịu hẳn, cảm giác ớn lạnh thoái lui. Gia đình ông từ đó gọi mộc mạc là “cây đau họng”. Mãi đến năm 2012, khi Viện Y học Bản địa Việt Nam phân loại thực vật, mẫu cây mới chính thức được định danh: Dây bầu rừng (cúc leo – Blumea riparia DC., họ Cúc). 32 năm trôi qua, câu hỏi thú vị nhất mở ra: Bên trong 5 chiếc lá ấy ẩn chứa điều gì giúp chặn đứng cơn đau thần tốc đến vậy?
Hai tầng hoạt chất trong một phiến lá
Phân tích hiện đại cho thấy Dây bầu rừng sở hữu cấu trúc hoạt chất tạo nên hiệu ứng hiệp đồng hiếm có:
Tầng 1 – Cắt cơn đau tại chỗ nhờ tinh dầu: Nghiên cứu năm 2022 chỉ ra tinh dầu lá chứa hàm lượng cao germacrene D (33,6%) và beta-caryophyllene (11,2%). Đáng chú ý, các thử nghiệm dược lý độc lập chứng minh beta-caryophyllene có khả năng gây tê tại chỗ, làm giảm dẫn truyền thần kinh ngoại biên theo nồng độ. Đây là lời giải hợp lý cho tác dụng “cắt đau sau 5 phút” – một cơ chế ức chế cảm giác tại niêm mạc họng, thay vì ngộ nhận rằng vi khuẩn bị tiêu diệt tức thì.
Tầng 2 – Kháng viêm và ức chế mầm bệnh nhờ polyphenol: Sắc ký lỏng – khối phổ xác nhận lá rất giàu flavonoid và hệ acid phenolic, nổi bật là caffeic acid, chlorogenic acid, rutin cùng chuỗi isochlorogenic acid (A, B, C) thuộc nhóm caffeoylquinic acid.
Tiềm năng đối đầu virus đường hô hấp trên
Nhóm caffeoylquinic acid trong Blumea riparia chính là tâm điểm thu hút giới nghiên cứu quốc tế. Trong một bằng sáng chế về chi Blumea, phân đoạn giàu dẫn chất này từ Dây bầu rừng được chọn thử nghiệm trực tiếp trên các dòng tế bào nhiễm: Virus hợp bào hô hấp (RSV); Virus á cúm type 3; Virus cúm A (H3N2) đây là nhưng virut luôn có tiềm lực gây viêm họng, amidal cấp.
Kết quả tiền lâm sàng ghi nhận hoạt tính ức chế rõ rệt trên cả ba chủng virus hô hấp so với đối chứng ribavirin. Dù chưa phải thử nghiệm lâm sàng điều trị trên người, phát hiện này là bước ngoặt: chứng minh trực giác của y học dân gian hoàn toàn có nền tảng sinh học vững chắc.
Nghệ thuật nhai lá tươi: Cơ chế tác động kép
Kinh nghiệm xưa dặn nhai lá tươi nuốt chậm thay vì sắc nước uống. Dưới lăng kính dược lý, động tác nhai cơ học giải phóng đồng thời hai dòng hoạt chất:
- Hợp chất bay hơi (terpenoid) phủ lập tức lên niêm mạc, phong bế cảm giác đau tại chỗ.
- Hợp chất phân cực (caffeoylquinic acid, flavonoid) theo dòng nước bọt ngấm sâu, phát huy tác dụng chống viêm và kìm hãm virus.
Viện Y học Bản địa Việt Nam hiện vẫn thận trọng ghi nhận đây là kinh nghiệm dân gian bổ trợ. Có thể hãm / sắc uống với dược liệu đã sơ chế, sấy khô ở liều 10-15 gam/ ngày. Không nên dùng cho những trường hợp sốt cao, amidan hóa mủ, khó thở hay nghi ngờ áp-xe vì bắt buộc phải can thiệp y khoa chuyên sâu.
Hành trình 32 năm đưa 5 chiếc lá rừng từ kinh nghiệm truyền khẩu thành đối tượng nghiên cứu của khoa học thực nghiệm. Người xưa nhận biết công năng trước khi hiểu bản chất phân tử; và sứ mệnh của khoa học hôm nay là chuẩn hóa kinh nghiệm ấy thành những giải pháp điều trị chuẩn mực cho tương lai.
Cần chú ý, từ phiên âm “kláng hồ mún dịch ra cây đau họng” trong tiếng người Dao là từ không chính xác. Bà con miền núi thấy chữa đau họng hiệu quả nên gọi như vậy sẽ nhầm với cây Cúc lục lăng cũng rất hiệu quả với đau viêm họng. Hai vị thuốc này thường được dùng phối hợp với nhau để sắc / hãm uống, tuy đều cùng họ Cúc nhưng tên khoa học là khác nhau.
Bác sĩ Hoàng Sầm, nhà nghiên cứu và thực hành lâm sàng.













