Một trường hợp “đắc lợi vô căn” mở đầu cho bảy năm nghiên cứu thuốc chống ung thư từ thảo dược. Đầu năm 2020, đúng thời điểm COVID-19 bắt đầu xuất hiện, tôi nhận lời hỗ trợ điều trị một bệnh nhân nam cao tuổi, sinh năm 1938, ở Bắc Kạn. Người bệnh từng công tác quản lý cấp huyện. Khi ấy tôi chỉ nhận được thông tin tương đối sơ lược qua điện thoại của Bác sĩ Hoàng Linh, nguyên Phó sở Y tế, nguyên bệnh viện trưởng bệnh viện tỉnh Bắc Kạn, rằng: Bác họ tôi bị ung thư giai đoạn cuối, nhờ ông chữa bằng thuốc đông y, vì “ung thư phổi, đã lan nhiều hạch, điều trị Tây y không còn đáp ứng”.
Người bệnh đã được điều trị tại một bệnh viện tuyến cuối đặc biệt, thuộc nhóm cơ sở chuyên môn cao nhất cả nước. Khoảng 60 ngày sau đợt hóa trị cuối, PET/CT không cho thấy kết quả mong muốn. Gia đình được định hướng chăm sóc giảm nhẹ.
Chính vì tưởng đây là ung thư phổi nên tôi lựa chọn Bách Hợp Cố Kim Thang, gia thêm Hoàng cầm, lá Cáp gai đen và phối hợp một lượng rất nhỏ chất chiết từ lá ngón. Bài thuốc này chúng tôi thường xuyên dùng cho viêm phế quản mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính … có hiệu quả.
Đó là một sự nhầm lẫn do chẩn đoán qua điện thoại mà có kết quả tốt nên gọi là “đắc lợi vô căn” hoặc “nhầm lẫn định mệnh” – vì nó làm thay đổi cuộc đời tôi. Khoảng 18 tháng sau, khi có điều kiện xem kỹ lại toàn bộ hồ sơ, tôi mới biết bệnh thực sự là lymphoma không Hodgkin giai đoạn IVB, có tổn thương tại phổi, trung thất và rất nhiều hạch vùng cổ hai bên. Nhưng điều khó giải thích hơn sự nhầm lẫn chẩn đoán ban đầu chính là diễn biến sau đó.
Qua quá trình điều trị, các hạch nhỏ dần rồi không còn thấy, khối trung thất biến mất, những tổn thương lớn ở phổi co xẹp mạnh; về sau trên hình ảnh chỉ còn cấu trúc mỏng giống phần vỏ hoặc tổ chức xơ của khối cũ. Người bệnh tiếp tục sống, sức khỏe ổn định và đến nay đã ngừng thuốc khoảng ba năm. Tôi có đủ hồ sơ của ca bệnh để đối chiếu diễn biến. Tuy nhiên, mục đích của bài viết này không phải đưa một ca đơn lẻ ra làm bằng chứng rằng một bài thuốc đã “chữa khỏi ung thư”. Một trường hợp, dù đặc biệt đến đâu, không đủ để thiết lập quan hệ nhân quả.
Tôi gọi trường hợp này là “đắc lợi vô căn”: có được một kết quả mà ở thời điểm ấy chính người điều trị cũng chưa biết căn nguyên của kết quả nằm ở đâu. Điều đáng nói là nhiều năm sau, khi quay lại mổ xẻ công thức bằng dược lý hiện đại, tôi bắt đầu nhìn thấy những mắt xích mà năm 2020 mình hoàn toàn chưa biết.
Bách Hợp Cố Kim Thang vốn gồm Bách hợp, Sinh địa, Thục địa, Mạch môn, Huyền sâm, Bối mẫu, Đương quy, Bạch thược, Cát cánh và Cam thảo, bài được gia thêm vị Hoàng Cầm và cáp gai đen, lá ngón. Trong đó Cát cánh hiện nổi lên như một vị đặc biệt đáng chú ý đối với lymphoma. Hôm nay mới phân tích lại bài thuốc này:
1. Cát cánh chứa platycodin D. Nghiên cứu năm 2023 trên nhiều dòng diffuse large B-cell lymphoma cho thấy chất này ức chế tăng sinh tế bào lymphoma, gây rối loạn ty thể và apoptosis, đồng thời làm giảm các protein chống chết tế bào MCL-1, BCL-2 và BCL-XL, tăng BAK. Trên mô hình xenograft lymphoma ở chuột, platycodin D cũng ức chế phát triển khối u.
Điều đó khiến cách nhìn đối với Cát cánh thay đổi. Trong cổ phương, nó được dùng theo lý luận tuyên Phế, lợi họng, hóa đàm; nhưng ở tầng sinh học phân tử, một hoạt chất của nó lại có khả năng can thiệp vào hệ thống chống apoptosis của tế bào lymphoma.
2. Vị thứ hai là Bạch thược. Hoạt chất paeoniflorin gần đây được chứng minh có khả năng ức chế cả dòng lymphoma SU-DHL-6, thúc đẩy apoptosis, tăng caspase-3 và caspase-9, đồng thời giảm BCL-2; hiệu ứng cũng được quan sát trên mô hình xenograft.
3. Bối mẫu lại mở ra một hướng khác. Peimine, còn gọi verticine, đã được nghiên cứu trên các dòng leukemia HL-60 và K562, kể cả các dòng đa kháng thuốc. Nó liên quan đến stress oxy hóa, caspase-3 và đặc biệt có khả năng làm giảm hoạt động của P-glycoprotein, một cơ chế quan trọng trong hiện tượng đa kháng thuốc. Đây chưa phải bằng chứng trực tiếp trên NHL, nhưng đáng quan tâm ở một bệnh nhân đã trải qua hóa trị.
4. Điều bất ngờ hơn nằm ở vị tôi gia thêm: Hoàng cầm. Baicalin của Hoàng cầm đã được nghiên cứu trực tiếp trên tế bào Burkitt lymphoma CA46. Nó ức chế tăng sinh, gây apoptosis qua con đường ty thể, hoạt hóa caspase-9 và caspase-3, đồng thời ức chế trục PI3K/Akt, một trong những hệ thống tín hiệu sống còn quan trọng của tế bào ung thư. Nhìn lại công thức năm đó, ta thấy ba nguồn hóa học khác nhau lại hội tụ: 1) Cát cánh → MCL-1, BCL-2, BCL-XL → apoptosis; 2) Hoàng cầm → PI3K/Akt → BCL-2 và caspase → apoptosis; 3) Bạch thược → BCL-2 giảm, caspase-3/9 tăng.
Còn Cáp gai đen và lá ngón hiện vẫn là những phần cần nghiên cứu sâu hơn. Đặc biệt lá ngón chứa nhiều alkaloid mạnh và độc tính cao; kinh nghiệm của ca này tuyệt đối không phải cơ sở để người khác tự sử dụng.
Điều khiến trường hợp này quan trọng với tôi không chỉ là một bệnh nhân sống lâu hơn dự kiến. Sau nhiều lần người bệnh trở lại tái khám, ngay cả những giáo sư – tiến sĩ người trực tiếp điều trị Tây y trước đó, theo hồi tưởng của tôi cũng rất ngạc nhiên trước diễn biến và thời gian sống của ông. Vì hiện nay ở tuổi 90 ông vẫn sống khỏe.
Chính ca bệnh ấy làm thay đổi nhận thức của tôi. Trước đó tôi biết cây thuốc có thể có tác dụng trên ung thư. Nhưng từ trường hợp này, tôi bắt đầu tin rằng trong dược liệu có thể tồn tại những tổ hợp hoạt chất đủ sức tác động thực sự vào sinh học của tế bào ung thư, và vấn đề là phải tìm cho ra chúng, định lượng chúng và giải thích được cơ chế.
Từ đó đến nay gần bảy năm, nghiên cứu thuốc chống ung thư từ thảo dược trở thành một công việc gần như thường nhật của tôi, có những giai đoạn dành 12–16 giờ mỗi ngày để đọc, thử nghiệm, đối chiếu dược liệu với sinh học phân tử của từng loại ung thư.
Một ca bệnh không thể tạo thành chân lý. Nhưng đôi khi một ca bệnh có thể chuyển đổi hướng cả một đời nghiên cứu.
Bách Hợp Cố Kim Thang đến với trường hợp này từ một sự nhầm lẫn. Kết quả thu được lúc ấy tôi không giải thích nổi. Sáu năm sau, khoa học bắt đầu cho thấy trong chính phương thuốc đó có những hoạt chất chạm vào BCL-2, MCL-1, PI3K/Akt, caspase và cơ chế kháng thuốc của tế bào ung thư. Tôi gọi đó là “đắc lợi vô căn”. Cái lợi đã thấy từ năm 2023. Còn cái căn, có lẽ chúng ta mới chỉ bắt đầu tìm thấy.
Bác sĩ Hoàng Sầm
Nhà nghiên cứu và thực hành lâm sàng













