PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH GOUT CỦA Y HỌC BẢN ĐỊA VIỆT NAM

Phác đồ điều trị bệnh Gout: bệnh gout là bệnh chuyển hóa hóa chất trong cơ thể, bao gồm sự giáng hóa của Adenin và Guanin giáng hóa từ nhân tế bào chết thành Purin. Từ đây Purin giáng hóa thành Hypoxanthin, nhờ men XO chúng biến thành Xanthin, vẫn nhờ men XO, Xanthin biến thành aciduric.Theo đó trong điều kiện bình thường dưới sự xúc tác của Oxyreductase, aciduric thay nhóm chức –OH bằng Navà trở thành muối urat. Trong máu, aciduric luôn chuyển hóa thành muối urat và ngược lại, thế nhưng vì acid thải trừ qua thận rất kém nên trong máu hàm lượng urat chiếm tới 98%, aciduric chỉ 2% để phục vụ nhiệm vụ chống oxy hóa.

Nhờ khả năng chống oxy hóa tuyệt vời nên người bị bệnh Gout không có biến chứng suy thận sống rất lâu, rất thông minh và ít khi bị ung thư. Hằng ngày chúng ta xét nghiệm aciduric máu thì thực tế là chúng ta đang xét nghiệm định lượng các phân tử urat. Do vậy khi nói đến aciduric trong máu mới đây người ta dùng thuật ngữ tập hợp uric/urat.

Có 4 con đường chuyển hóa tập hợp này:

1. Thanh thải qua đường tiết niệu dưới dạng urat chiếm 25% tổng tập hợp. Nếu thận bị tổn thương hoặc thải qua thận quá nhiều urat sẽ lắng đọng ngay ở ống lượn gần của nefron dẫn đến tắc hoặc bán tắc ống lượn gần gây suy thận. Khắc phục tình trạng này người bị bệnh Gout dù có tổn thương thận hoặc không có tổn thương thận đều cần uống nhiều nước. Lượng uống để bảo đảm thanh thải urat dao động trong khoảng 1,8 đến 2,5l/ ngày. Nếu nước đó là nước khoáng kiềm hoặc nước từ hạt kiềm sinh học thì đặc biệt thuận lợi để thanh thải urat, giảm tập hợp uric/urat trong máu. Có một cách khác để tăng độ thanh thải qua đường tiết niệu đó là uống nước sắc cành lá cây tía tô, về mặt cận lâm sàng Viện y học Bản địa Việt Nam đã có nghiên cứu với độ tin cậy p< 0,05. Nhưng chưa rõ cơ chế.

2. Đường thanh thải qua mật – ruột – phân. Đây là con đường giáng hóa chiếm tới 35% tổng nồng độ tập hợp uric/urat mỗi ngày. Theo cơ chế uric/urat vào gan xuống mật xuống ruột chúng được tái hấp thu một phần nhỏ ở ruột non, khi xuống ruột già được nhóm vi khuẩn Clotrium- Perfingene gồm 4 vi khuẩn yếm khí chuyên sống nhờ urat. Đây là con đường thanh thải quan trọng nhất nhưng hiện nay rất ít nhà lâm sàng và nhà khoa học khai thác.

3. Đường thanh thải qua gan bằng cách tái chế, tái tổ hợp tập hợp uric/urat để chúng trở lại thành Purin mới phục vụ cho việc hình thành nhân tế bào mới. Người ta đã lợi dụng ức chế con đường này để hạn chế sự phát triển của các khối u ung thư. Sự thể việc tái chế  xảy ra như sau: tập hợp uric/urat nhờ men HGPRT( Hypoxanthin guanin photphoribosyl transferase) chúng sẽ được tái chế thành purin mới để vào một chu trình mới hoặc dùng để tái tạo nhân tế bào mới.

4. Tập hợp uric/urat lắng đọng ở các điểm thấp nhất của cơ thể khi nằm, ví dụ sau vành tai, khuỷu tay, các ngón tay hoặc mắt cá ngoài của chân hoặc ngón chân cái và hoặc xương chậu, gân dây chằng cột sống... ta thường gọi là cục Tophi. Nếu ở súc vật và gia cầm thì các chất này lắng đọng ở xương ức. Ngoài ra chúng còn được lưu trữ luân chuyển ở não, tim và các cơ quan khác để chống oxy hóa.

Như vậy: nguyên tắc điều trị bệnh Gout bao gồm

1. Uống nhiều nước, lợi tiểu thảo mộc để tăng thanh thải và chống lắng đọng ở thận. Đặc biệt là nước khoáng kiềm vừa nâng PH của nội bào bạch cầu vừa tăng thanh thải tập hợp uric/urat.

2. Dùng các thảo mộc có cấu trúc tương tự như men XO để cạnh tranh khiến cho Hypoxanthin không chuyển hóa thành xanthin và xanthin không chuyển hóa thành aciduric. Đây chính là cơ chế của các thuốc phòng bệnh Gout như Allopurinol, Amplivix, Zyloric... Các thảo mộc này có thể là những cây đã được khoa học thực nghiệm chứng minh như cỏ nhọ nồi, dây pháo leo, dây chiều liêu, thân gỗ cây tô mộc, thân gỗ cây mán đỉa ...

3. Dùng thảo mộc ức chế hệ thống Cytokine và Chemokine để hệ thống kháng viêm miễn dịch giảm độ nhạy cảm khi các tinh thể urat phá hủy bạch cầu đa nhân trung tính giải phóng ra tiêu thể lysozym phá hủy màng khớp - gây viêm gây cơn gout cấp ở người.

4. Dùng thảo mộc cải thiện chức năng của men HGPRT để tăng tái chế tập hợp uric/urat thành chất purin có lợi.

5. Dùng thảo mộc hoặc các loại men tiêu hóa tối ưu bảo vệ quần thể vi khuẩn Chí đường ruột. Nhờ đó tiêu bớt tập hợp uric/urat.

6. Dùng thảo mộc làm tăng lượng men Aromatase để hạn chế kích sinh men PRPPs3 ( phophoribosylpyrophotphat synthetase) để hạn chế hoạt động của tinh hoàn trong việc tăng sinh tổng hợp purin trong môi trường giàu acidlactic (ví dụ sau uống bia rượu)

7. Luôn giữ ấm cơ thể, đặc biệt là các ngọn chi, vì men Oxyreductase chỉ bị kích hoạt khi nhiệt độ vùng cục bộ mắc bệnh gout dưới 35o C.

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ GOUT BỞI VIỆN Y HỌC BẢN ĐỊA VIỆT NAM

           1.  DR-06 đợt cấp x 6 viên/ngày, sau đó duy trì 4 viên/ngày;

           2.  Thận L5 x 6 viên/ngày chia 3 lần 8h, 14h, 20h;

           3.  Morinda x 6viên/ngày chia 3 lần 8h, 14h, 20h;

           4. GTP  saman x 3v/ngày chia 3 lần 8h, 14h, 20h;

           5.  Hạt kiềm x 01gói (30 gram), pha bình nước lọc 20 lít dùng uống hàng ngày;

Thời gian xuất hiện tác dụng khoảng 7-15 ngày, duy trì từ 6-9 tháng tùy từng trường hợp; chú ý kiêng tạng phủ động vật, thịt đỏ, đậu Hà lan, bia và rượu.

bacsysaman@gmail.com

[]