UNG THƯ PHỔI TẾ BÀO NHỎ

1. Ung thư phổi là gì ?

Ung thư không chỉ là một căn bệnh. Có nhiều loại ung thư, nhưng tất cả các bệnh ung thư đều bắt đầu khi một nhóm tế bào trong cơ thể phát triển ngoài tầm kiểm soát, tế bào ung thư tiếp tục phát triển và có thể lấn át các tế bào bình thường; điều này khiến cơ thể khó hoạt động bình thường như trước.

Ung thư có thể bắt đầu từ bất cứ cơ quan nào của cơ thể. Nó có thể bắt đầu ở vú, phổi, ruột, máu...; khi ung thư bắt đầu ở phổi gọi là ung thư phổi.

Tế bào ung thư có thể lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Ví dụ: Tế bào ung thư phổi có thể di chuyển đến xương và phát triển ở đó, khi các tế bào ung thư lan rộng được gọi là ung thư di căn.

Ung thư luôn được đặt tên cho nơi nó bắt đầu. Vì vây, khi ung thư phổi di căn lên não (hoặc bất kỳ nơi nào khác của cơ thể), nó vẫn được gọi là ung thư phổi, nó không được gọi là ung thư não, trừ khi nó bắt đầu ở não.

2. Cấu tạo giải phẫu của phổi

Phổi là cơ quan giống như bọt biển ở trong lồng ngực. Phổi bên phải có 3 phần gọi là các thùy. Phổi trái có 2 thùy. Phổi trái nhỏ hơn phổi phải vì tim chiếm nhiều chỗ hơn ở lồng ngực trái. Phổi có chức năng thông khí, đưa khí vào và đưa khí ra khỏi cơ thể, chúng hấp thụ khí O xy và loại bỏ khí Carbon dioxide, một sản phẩm của chất thải của cơ thể.

3. Các loại ung thư phổi

Các loại ung thư phổi chính là:

- Ung thư phổi tế bào nhỏ

- Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

Hai loại này được xử lý theo những cách khác nhau.

4. Các xét nghiệm để chẩn đoán ung thư phổi

4.1 Chụp XQ lồng ngực:

Đây thường là xét nghiệm đầu tiên được sử dụng để tìm các dấu hiệu bất thường trên phổi. Khi có sự thay đổi hoặc nghi ngờ bị ung thư phổi bệnh nhân cần làm thêm một số xét nghiệm khác.

4.2 Chụp CT:

Đây còn gọi là quét CAT. Chụp CT là dùng tia X đặc biệt giúp chụp ảnh chi tiết bên trong của phổi.

4.3 Chụp PET:

Một loại đường được đưa vào một trong các tĩnh mạch của bệnh nhân để làm xét nghiệm này. Sau đó hình ảnh bên trong của bệnh nhân được chụp bằng một máy ảnh đặc biệt, nếu có ung thư đường sẽ hiển thị như “điểm nóng” nơi phát hiện ung thư. Chụp PET hữu ích khi cần phải xác định ung thư đã di căn, nhưng không biết ở đâu.

4.4 Sinh thiết

Để sinh thiết, bác sỹ sẽ lấy ra một mảnh nhỏ của khối u phổi. Sau đó nó được gửi đến phòng thí nghiệm để xác định xem có tế bào ung thư trong mảnh đã được sinh thiết đó hay không. Đây là một phương pháp chắc chắn nhất để chẩn đoán xác định bệnh nhân ung thư.

4.5 Nội soi phế quản:

Một ống mềm sáng, mỏng được đưa qua miệng bệnh nhân vào phế quản. Bác sỹ có thể nhìn qua ống này để tìm khối u. Ống này cũng có thể lấy ra một phần khối u hoặc chất lỏng để xét nghiệm xem có tế bào ung thư hay không.

4.6 Xét nghiệm máu:

Xét nghiệm này không được dùng để tìm ung thư phổi, nhưng được chỉ định để bác sỹ biết thêm về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

5. Xác định mức độ nghiêm trọng

Nếu bệnh nhân bị ung thư phổi, bác sỹ muốn tìm hiểu ung thư đã di căn bao xa. Đây được gọi là giai đoạn. Nếu biết được giai đoạn ung thư sẽ giúp cho bác sỹ lựa chọn phương pháp điều trị nào là tốt nhất cho bệnh nhân.

Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ, hệ thống 2 giai đoạn thường được sử dụng nhất. Ung thư phổi tế bào nhỏ được phân chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn hạn chế và giai đoạn mở rộng.

Giai đoạn hạn chế: Có nghĩa là ung thư phổi chỉ ở 1 bên phổi và có thể ở các hạch bạch huyết ở cùng bên ngực.

Giai đoạn mở rộng: Nó được gọi là giai đoạn mở rộng nếu ung thư đã lan sang phổi bên kia, đến các hạch bạch huyết ở bên kia của ngực, hoặc đến các cơ quan ở xa. Nhiều bác sỹ còn gọi ung thư đã di căn sang dịch phổi xung quanh phổi là ung thư giai đoạn mở rộng.

Nếu bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn hạn chế, bệnh nhân sẽ được điều trị bằng xạ trị hoặc hóa trị để cố gắng chữa khỏi cho bệnh nhân. Ung thư giai đoạn mở rộng sẽ được điều trị, nhưng ít có khả năng chữa khỏi.

6. Điều trị ung thư tế bào nhỏ

Có nhiều cách để điều trị nhưng chủ yếu là xạ trị và hóa trị. Trong một số trường hợp hiếm hoi, phẫu thuật có thể được sử dụng.

Kế hoạch điều trị tốt nhất cho bệnh nhân sẽ phụ thuộc vào:

Giai đoạn ung thư

Cơ hội mà một loại phương pháp điều trị sẽ chữa khỏi bệnh ung thư hoặc giúp đỡ theo một cách nào đó

Tuổi của bệnh nhân

Các vấn đề sức khỏe khác của bệnh nhân

Cảm nhận của bệnh nhân về phương pháp điều trị và các tác dụng phụ có thể xảy ra

6.1. Điều trị bằng bức xạ

Điều trị bức xạ là sử dụng các tia có năng lượng cao (Chẳng hạn như tia X) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Trong ung thư phổi ở giai đoạn hạn chế, nó thường được sử dụng cùng với hóa trị để điều trị khối u và các hạch bạch huyết ở ngực. Hoặc nó có thể được sử dụng trên não để cố gắng ngăn chặn ung thư lây lan ở đó. Điều trị bức xạ còn được sử dụng để làm giảm các triệu chứng, chẳng hạn như đau, chảy máu, khó nuốt và các vấn đề khác. Nó được tiêm với liều lượng nhỏ mỗi ngày trong nhiều tuần.

Tác dụng phụ của điều trị bức xạ: Da bệnh nhân giống như cháy nắng thay đổi ở nơi được chiếu; bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi hoặc rất mệt mỏi... Nhưng các tác dụng phụ này hầu hết sẽ mất đi khi kết thúc điều trị, một số bệnh nhân có thể tồn tại lâu hơn.

6.2 Điều trị bằng hóa trị (Chemo):

Là sử dụng thuốc để chống lại bệnh ung thư. Chemo thường là phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ. Thuốc có thể được đưa vào qua đường tĩnh mạch hay đường uống dưới dạng thuốc viên. Thuốc sẽ vào máu và lan khắp cơ thể người bệnh.

Chemo được điều trị thời gian theo chu kỳ hoặc vòng có thể kéo dài nhiều tháng, thường có khoảng nghỉ ngơi như một phần của mỗi chu kỳ điều trị, điều này giúp cơ thể bệnh nhân có thời gian để phục hồi.

Tác dụng phụ của phương pháp Chemo: Bệnh nhân mệt mỏi, đau bụng, tóc rụng... Nhưng các dấu hiệu này sẽ biến mất sau khi điều trị Chemo kết thúc.

6.3 Điều trị bằng phẫu thuật

Hầu hết bệnh nhân sẽ không áp dụng phương pháp này khi bị ung thư phổi tế bào nhỏ. Trong một số trường hợp, nếu phạm vi ung thư rất nhỏ và chưa lan rộng thì phẫu thuật có thể được áp dụng để loại bỏ 1 phần hay toàn bộ phổi (phổi phải hay phổi trái) của bệnh nhân.

Đôi khi chất lỏng được tích tụ trong ngực và gây ra các vấn đề về chức năng hô hấp, thì chất lỏng này được lấy ra bằng cách đặt một ống nhỏ trong lồng ngực. Sau khi chất lỏng đã được lấy đi, người ta tiêm thuốc vào ống giúp cho “niêm phong” không gian ở ngực và ngăn chất lỏng tích tụ trở lại.

Tác dụng phụ: Bất kỳ một phẫu thuật nào cũng có thể gây rủi ro cho bệnh nhân và với phẫu thuật với ung thư phổi tế bào nhỏ cũng không có ngoại lệ.

6.4 Liệu pháp miễn dịch cho bệnh ung thư tế bào nhỏ

Là liệu pháp tăng cường hệ thống miễn dịch của chính bệnh nhân hoặc sử dụng các phiên bản nhân tạo của các bộ phận trong hệ thống miễn dịch để tấn công các tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ. Các loại thuốc này có thể được tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân.

Tác dụng phụ của liệu pháp này có thể gây nhiều tác dụng không mong muốn khác nhau tùy theo từng loại thuốc được sử dụng cho bệnh nhân. Thường là bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, đau bụng và phát ban trên da, hầu hết các dấu hiệu này sẽ mất đi khi kết thúc liệu pháp miễn dịch.

6.5 Các thử nghiệm lâm sàng

Thử nghiệm lâm sàng là nghiên cứu thử nghiệm các loại thuốc mới hoặc các phương pháp điều trị khác trên người. Từ đó, các nhà khoa học có bằng chứng để so sánh các phương pháp điều trị tiêu chuẩn với những phương pháp điều trị khác có thể tốt hơn.

Thử nghiệm lâm sàng là một trong những cách điều trị ung thư mới nhất. Đó là cách tốt nhất để tìm ra những phương pháp tốt hơn để điều trị ung thư.

Các bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng khi được các nhà khoa học đang nghiên cứu để điều trị bệnh ung thư có thể tự nguyện đăng ký tham gia, và bệnh nhân cũng có thể dừng lại bất cứ lúc nào trong quá trình tham gia thử nghiệm đó.

6.6 Một số phương pháp điều trị khác

Đây có thể không phải lúc nào cũng là phương pháp điều trị y tế tiêu chuẩn. Đó là các phương pháp điều trị có thể là Vitamin, thảo mộc, chế độ ăn kiêng v.v. Một số trong số này được biết là hữu ích; một số thậm chí được phát hiện ra là có hại.

7. Điều gì sẽ xảy ra sau khi điều trị ?

Bệnh nhân có thể vui mừng khi quá trình điều trị kết thúc có hiệu quả, nhưng thật khó để không lo ung thư sẽ tái phát. Ngay cả ung thư có thể không bao giờ tái phát, nhưng bệnh nhân vẫn lo lắng về điều này.

Vì vậy, trong nhiều năm sau khi điều trị ung thư đã kết thúc, bệnh nhân vẫn rất cần gặp bác sỹ để tái khám, bệnh nhân sẽ được bác sỹ khám kiểm tra, xét nghiệm máu và có thể cần làm một số xét nghiệm khác để biết ung thư có tái phát hay không.

Trong năm đầu tiên sau khi điều trị ung thư, bệnh nhân có thể đi khám từ 2-3 tháng một lần, bệnh nhân có thể xét nghiệm máu và chụp CT. Sau năm đầu tiên hoặc có thể lâu hơn, các lần khám lại của bệnh nhân có thể là 6 tháng một lần. Và ít nhất là một lần, cho mỗi năm sau 5 năm.

Biên soạn và dịch theo bài: “Nếu bạn bị ung thư phổi tế bào nhỏ” của Hiệp Hội Ung thư Hoa kỳ (American Cancer Society).

BS. Ngô Quang Trúc

 

 

[]